chương 1 luận văn này), nên đã quá quen với tên gọi Tín ngưỡng phồn thực hơn gọi là Tín ngưỡng cầu mùa. Hơn nữa, trong nghiên cứu, khi gọi là tín ngưỡng phồn thực mang ý nghĩa rộng lớn hơn, phổ quát hơn trên thế giới. Còn Tín ngưỡng cầu mùa chỉ giới hạn trong phạm vi cư dân trồng trọt, nông nghiệp, nhất là các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Phương pháp tiếp cận và nghiên cứu Với đề tài Tín ngưỡng cầu mùa trong lễ hội của người Việt ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, có thể nói đây là đề tài khá lý thú, nhưng cũng khó tiếp cận và triển khai nghiên cứu. Cái khó thứ nhất, đây là đề tài mang tính chất dân gian, các nguồn tư liệu về nó đang nằm rải rác, phân tán trong các địa phương. Cái khó thứ hai, phần lớn các nguồn tư liệu đó không chỉ phân tán, mà đã trải qua những thời gian lịch sử khá dài hàng nghìn năm, phần lớn tư liệu phải dùng phương pháp hồi cố, thậm chí phải tưởng tượng về quá khứ. Vì thế, những tư liệu này đã được các tầng lớp trong xã hội nhận thức, sàng lọc, đánh giá một cách khác nhau, tùy thuộc vào lợi ích của các tầng lớp đó.
Cho nên, muốn tiếp cận và nghiên cứu được những nội dung đề tài này, việc vận dụng phương pháp nghiên cửu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ yếu duy vật lịch sử làm kim chỉ nam là điều cần thiết. Đó là tập trung tìm hiểu, lý giải bản chất, nội dung cũng như hình thức biểu hiện vô cùng sinh động của tín ngưỡng cầu mùa đã, đang hiện hữu trong thực tế đời sống xã hội và trong các lễ hội truyền thống của người Việt ở Lâm Thao, Phú Thọ nói riêng, vùng châu thổ sông Hồng nói chung. Vì thế, việc nghiên cứu định tính trong khu vực văn hóa - lịch sử - dân tộc học là cần thiết. Lý thuyết vùng văn hóa ra đời ở phương Tây từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
Đó là những nhà Nhân học Mỹ như: F. với sự phát hiện về típ đặc trưng cho vùng, tiếp theo là lý thuyết vùng văn hóa. đã lan rộng tới các nhà dân tộc học Xô Viết, mà người đại diện là hai nhà dân tộc học nổi tiếng N. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 17 Từ các nước trên, nhất là Liên Xô, những lý thuyết trên đã ảnh hưởng và được các nhà nghiên cứu văn hóa ở Việt Nam tiếp thu vào những năm 70, 80 của thế kỷ XX.
Trong đó, tiêu biểu là GS.Ngô Đức Thịnh (chủ biên), cuốn tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam (2001) và sau đó được triển khai cụ thể hơn trong Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa (2004). Những cuốn sách này đã chịu ảnh hưởng rất lớn các lý thuyết vùng văn hóa của phương Tây và các học giả Xô Viết mà các học giả Việt Nam đã thừa hưởng có phần sáng tạo cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam hơn. Đóng góp lớn nhất của lý thuyết vùng văn hóa là thông qua sự phân bố địa lý của các hiện tượng văn hóa, các nhà nghiên cứu có thể tìm ra mối quan hệ sinh tồn giữa các hiện tượng văn hóa hay tổ hợp văn hóa với môi trường sống của tộc người, giúp nhận diện rõ các hiện tượng và văn hóa với những ranh giới, những đặc trưng cụ thể. Đối với đề tài luận văn cụ thể của chúng tôi, Lý thuyết vùng văn hóa đã chỉ ra phương pháp nghiên cứu cụ thể, thiết thực.
Đó là thuyết loại hình kinh tế - văn hóa, nhất là thuyết khu vực văn hóa - lịch sử mà các học giả Xô Viết đã chỉ đường, dẫn lối [Ngô Đức Thịnh, 2004, tr. Để tìm hiểu, nghiên cứu được đề tài đã chọn, việc đầu tiên là phải xác định cho được đặc điểm vùng châu thổ Bắc Bộ. Đây là vùng văn hóa bao gồm địa bàn nhiều tỉnh như Nam Định, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Hà Nội (gồm cả vùng Hà Tây cũ), Hải Phòng. đặc biệt là đồng bằng các tỉnh liên quan như Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang, mà trung tâm là huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
Có thể nói, đây là vùng hợp lưu, hội tụ không chỉ là ngã ba sông Lô, Đà, Thao mà đỉnh cao là Bạch Hạc - Việt Trì nơi hội tụ của các dòng văn hóa ngược, xuôi của nhiều dân tộc anh em ở Bắc Bộ. Hơn nữa, đây còn là trung tâm vùng Đất Tổ, nơi các Vua Hùng đã dày TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 18 công dựng xây, vun đắp hàng ngàn năm mà huyện Lâm Thao là một trong những nơi khởi nguồn, khai sơn, phá thạch. Tìm hiểu, nghiên cứu một không gian địa lý, xã hội đặc biệt này cần phải có phương pháp tiếp cận và nghiên cứu khoa học, phù hợp với thực tiễn của nó. Trên cơ sở các lý thuyết vùng văn hóa trên đây, phương pháp nghiên cứu định tính là lựa chọn thích hợp có tính khả thi hơn cả.
Cho nên, để phân tích định tính việc căn cứ vào tư liệu thực tiễn là quan trọng. Nhưng, phần lớn những tư liệu đó đều là vấn đề, hiện tượng của quá khứ, nên việc hồi cố qua những công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước là cần thiết. Vì, nghiên cứu định tính, phải căn cứ vào tư liệu thực tế mà không đưa các khái niệm lý luận ra làm định hướng và kiểm nghiệm đúng, sai như nghiên cứu định lượng. Ví dụ, trong lễ hội Trò Trám ở làng Trám, xã Tứ Xã (Phong Châu - Phú Thọ) tổ chức vào ngày 11 tháng Giêng có lễ mật vào lúc nửa đêm, gọi là lễ "linh tinh tình phộc", thực chất là các nghi thức cầu sinh thực khí, hài hòa âm - dương, đực - cái.
Về sau trò diễn này, nam nữ thanh niên thi hát giao duyên rồi tự do đùa nghịch trêu chọc nhau để sáng hôm sau rước lúa thần vào miếu tế thần làng, cầu mong mùa màng tốt tươi, người an, vật thịnh, mọi điều được tốt đẹp, như ý. Qua lễ linh tinh tình phộc để cầu sinh thực khí của Xóm Trám, Phú Thọ, cũng như các lễ tục sùng bái, tôn thờ cái Nõ Nường và tiến cúng các cô gái còn trinh cho các thần làng ở Bắc Ninh và những tục lệ tương tự vùng châu phổ Bắc Bộ, cầu cho người yên, vật thịnh đều thể hiện các nghi thức cầu mùa. Ở đây, các hành vi văn hóa này đã được cơ chế hóa, xây dựng trên cơ sở tự điều chỉnh của các cộng đồng sao cho phù hợp với thực tiễn của mình. Đây không phải là dịp để phân định cái nào tốt, cái nào xấu mà chê TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 19 bai, khinh miệt nhau.
Vấn đề ở đây là phải tìm ra những nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp dẫn đến những hiện tượng đặc biệt này vốn có từ lâu đời. Thực ra, đây là những nghi thức của tín ngưỡng cầu mùa, tục sùng bái, tôn thờ các lực lượng sinh thực khí, những năng lượng thiêng để cầu mong sự nảy nở, sinh sôi của muôn loài. Đóng góp của đề tài Bằng những nghiên cứu về tín ngưỡng cầu mùa trong lễ hội người Việt ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, luận văn đã góp phần làm rõ hơn một số vấn đề lý thuyết và thực tiễn mà đề tài quan tâm. - Về lý thuyết, tuy đề tài về tín ngưỡng phồn thực đã được nhiều người trong nước và nước ngoài tìm hiểu, nghiên cứu từ lâu.
Nhưng, lâu nay giữa khái niệm tín ngưỡng phồn thực và tín ngưỡng cầu mùa vẫn chưa được phân biệt rõ ràng. Giữa hai khái niệm này, khái niệm về tín ngưỡng phồn thực thường được các nhà nghiên cứu sử dụng nhiều hơn, vì sự lâu đời và tính phổ biến của nó. Còn khái niệm tín ngưỡng cầu mùa ít được nói tới vì tính chuyên biệt, hạn chế của nó trong một phạm vi hạn hẹp ở một số nước nông nghiệp, nhất là những nước thuần nông như Việt Nam. Mặc dù, thực chất hai khái niệm này đều cùng chung một cội nguồn.
Đó là tục thờ sinh thực khí, những năng lượng thiêng sinh ra sự nảy nở, sinh sôi, phát triển. Nhưng, do đặc thù điều kiện, môi trường tự nhiên và xã hội ở mỗi vùng, mỗi nơi mỗi khác, nhất là việc sinh ra các tôn giáo lớn trên thế giới, đã dẫn tục thờ sinh thực khí phát triển ở mỗi nơi mỗi khác, tạo thành những đặc trưng riêng. Sự phân biệt đó ngày càng rõ ràng, cụ thể hơn sau cuộc Cách mạng Đá Mới ở các vùng nông nghiệp. Ở các nước nông nghiệp như Việt Nam, khái niệm tín ngưỡng cầu mùa được sử dụng nhiều hơn, phổ biến hơn trên cơ sở quan niệm dân gian TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 20 thời nguyên thủy về tục thờ sinh thực khí.
Thực chất là sùng bái, tôn thờ các lực lượng có khả năng truyền giống và nhân giống mang lại ánh sáng khác thường cho các cơ quan sinh sản và thiêng liêng hóa chúng. Bởi vậy, nỗi cầu mong phồn sinh phồn thực khi đã trở thành tín ngưỡng, lấy âm dương vật làm đối tượng thờ cúng. Sự thờ cúng âm dương vật (mà các nước theo Phật giáo gọi là Linga và Yoni), ở Việt Nam thường gọi là cái Nõ, cái Nường. Sự sùng bái sinh thực khí đó đã trở thành hạt nhân của tín ngưỡng phồn thực nói chung và là hạt nhân của tín ngưỡng cầu mùa nói riêng ở các nước nông nghiệp.
- Về thực tiễn, trên cơ sở nhận thức và nguồn gốc như vậy, các tín ngưỡng này đã tồn tại và phát triển ở mỗi nơi, mỗi vùng một khác, mang những đặc trưng riêng. Những đặc trưng đó phản ánh đặc điểm tự nhiên, xã hội một cách sống động những nơi đã sản sinh và nuôi dưỡng nó. Ở Việt Nam và các nước nông nghiệp, tín ngưỡng cầu mùa trở thành đặc trưng riêng với sự cầu mong cao nhất là mùa màng tốt tươi, người an, vật thịnh, mọi sự như ý. Luận văn đã phân biệt rõ hai khái niệm tín ngưỡng phồn thực và tín ngưỡng cầu mùa như vậy đã góp phần làm rõ hơn thực chất giữa hai khái niệm này với tính thực tiễn của chúng.
Bố cục của luận văn Ngoài lời mở đầu và kết luận. Luận văn được chia làm 4 chương như sau: - Lời mở đầu - Chương 1: Tổng quan lý thuyết và các khái niệm liên quan đến tín ngưỡng cầu mùa. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 21 - Chương 2: Người Việt ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ và những đặc điểm về môi trường sinh thái, kinh tế, văn hóa, xã hội truyền thống.