Tín Hiệu Thẩm Mỹ Trong Thơ Chế Lan Viên

Khám phá tín hiệu thẩm mỹ trong thơ Chế Lan Viên, tác phẩm thể hiện sâu sắc tâm tư và cảm xúc của con người qua ngôn ngữ nghệ thuật độc đáo.

Trường đại học

Trường Đại Học Quy Nhơn

Chuyên ngành

Ngôn Ngữ Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn

2023

134
7
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lí do chọn đề tài

1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

1.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Bố cục của luận văn

2. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

2.1. Tín hiệu ngôn ngữ

2.2. Cơ sở phân chia các trường tín hiệu thẩm mĩ

2.3. Khái niệm về trường nghĩa và các tiêu chí phân lập trường nghĩa

2.4. Các loại trường nghĩa. Ngữ nghĩa của trường nghĩa

2.5. Một số vấn đề về ngữ cảnh của các tín hiệu thẩm mĩ

2.6. Chế Lan Viên – cuộc đời và sự nghiệp

2.6.1. Cuộc đời Chế Lan Viên

2.6.2. Sự nghiệp – con đường thơ Chế Lan Viên

2.7. Tiểu kết Chương 1

3. BIỂU HIỆN HÌNH THỨC CỦA CÁC TÍN HIỆU THẨM MĨ TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN

3.1. Biểu hiện hình thức của các tín hiệu thẩm mĩ trong các trường nghĩa

3.2. Biểu hiện hình thức của các tín hiệu thẩm mĩ thuộc trường nghĩa hiện tượng tự nhiên

3.3. Biểu hiện hình thức của các tín hiệu thẩm mĩ thuộc trường nghĩa vật thể nhân tạo

3.4. Biểu hiện hình thức các tín hiệu thẩm mĩ thuộc trường nghĩa thực vật

3.5. Biểu hiện hình thức các tín hiệu thẩm mĩ thuộc trường nghĩa động vật

3.6. Biểu hiện hình thức các tín hiệu thẩm mĩ thuộc trường nghĩa con người

3.7. Tiểu kết Chương 2

4. BIỂU HIỆN Ý NGHĨA CỦA CÁC TÍN HIỆU THẨM MĨ TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN

4.1. Ý nghĩa – cái được biểu đạt của tín hiệu thẩm mĩ

4.2. Ý nghĩa của các tín hiệu thẩm mĩ trong thơ Chế Lan Viên

4.3. Ý nghĩa của các tín hiệu thẩm mĩ điển hình thuộc trường nghĩa hiện tượng tự nhiên

4.4. Ý nghĩa của các tín hiệu thẩm mĩ điển hình thuộc trường nghĩa vật thể nhân tạo

4.5. Ý nghĩa của các tín hiệu thẩm mĩ thuộc trường nghĩa thực vật

4.6. Ý nghĩa của các tín hiệu thẩm mĩ điển hình thuộc trường nghĩa động vật

4.7. Ý nghĩa của các tín hiệu thẩm mĩ điển hình thuộc trường nghĩa con người

4.8. Ứng dụng nguyên lí tín hiệu học vào phân tích tác phẩm Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên

4.9. Tiểu kết Chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Tín Hiệu Thẩm Mỹ Trong Thơ Chế Lan Viên

Tín hiệu thẩm mỹ trong thơ Chế Lan Viên là một chủ đề phong phú, phản ánh sự kết hợp giữa ngôn ngữ và nghệ thuật. Thơ của ông không chỉ đơn thuần là những câu chữ mà còn là những tín hiệu nghệ thuật sâu sắc, thể hiện tâm tư, tình cảm và triết lý sống. Việc nghiên cứu tín hiệu thẩm mỹ giúp hiểu rõ hơn về cách mà ngôn ngữ được sử dụng để tạo ra giá trị nghệ thuật trong thơ ca.

1.1. Khái Niệm Tín Hiệu Thẩm Mỹ Trong Thơ

Tín hiệu thẩm mỹ (THTM) là khái niệm chỉ những yếu tố ngôn ngữ được sử dụng để tạo ra giá trị nghệ thuật trong thơ. Chế Lan Viên đã khéo léo vận dụng THTM để thể hiện những cảm xúc sâu sắc và triết lý nhân sinh.

1.2. Đặc Điểm Nghệ Thuật Ngôn Ngữ Của Chế Lan Viên

Thơ Chế Lan Viên nổi bật với sự kết hợp giữa hình thức và nội dung. Ngôn ngữ thơ ông không chỉ mang tính biểu đạt mà còn chứa đựng những tín hiệu thẩm mỹ phong phú, tạo nên chiều sâu cho tác phẩm.

II. Vấn Đề Nghiên Cứu Tín Hiệu Thẩm Mỹ Trong Thơ Chế Lan Viên

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về thơ Chế Lan Viên, nhưng vấn đề tín hiệu thẩm mỹ vẫn còn nhiều điều chưa được khai thác. Việc tìm hiểu sâu hơn về THTM trong thơ ông sẽ giúp làm sáng tỏ những giá trị nghệ thuật và tư tưởng mà ông muốn truyền tải.

2.1. Những Thách Thức Trong Nghiên Cứu THTM

Một trong những thách thức lớn trong nghiên cứu THTM là việc xác định và phân loại các tín hiệu một cách chính xác. Điều này đòi hỏi sự am hiểu sâu sắc về ngôn ngữ và nghệ thuật.

2.2. Tình Hình Nghiên Cứu Hiện Tại

Hiện nay, có rất ít công trình nghiên cứu chuyên sâu về THTM trong thơ Chế Lan Viên. Điều này mở ra cơ hội cho các nghiên cứu mới, giúp làm phong phú thêm kho tàng văn học Việt Nam.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Tín Hiệu Thẩm Mỹ Trong Thơ

Để nghiên cứu THTM trong thơ Chế Lan Viên, cần áp dụng các phương pháp phân tích ngôn ngữ học và nghệ thuật. Việc kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn sẽ giúp làm rõ hơn các tín hiệu thẩm mỹ trong tác phẩm.

3.1. Phân Tích Ngữ Nghĩa Của THTM

Phân tích ngữ nghĩa của THTM giúp hiểu rõ hơn về cách mà ngôn ngữ được sử dụng để truyền tải cảm xúc và ý tưởng trong thơ Chế Lan Viên.

3.2. Khảo Sát Hệ Thống THTM Trong Tác Phẩm

Khảo sát hệ thống THTM trong các tác phẩm thơ của Chế Lan Viên sẽ giúp phát hiện ra những tín hiệu nghệ thuật đặc trưng, từ đó làm nổi bật phong cách sáng tác của ông.

IV. Ứng Dụng Tín Hiệu Thẩm Mỹ Trong Phân Tích Thơ

Việc ứng dụng THTM trong phân tích thơ Chế Lan Viên không chỉ giúp hiểu rõ hơn về tác phẩm mà còn mở ra những góc nhìn mới về nghệ thuật ngôn ngữ. Điều này có thể áp dụng trong giảng dạy và nghiên cứu văn học.

4.1. Tín Hiệu Thẩm Mỹ Trong Tác Phẩm Tiêu Biểu

Nghiên cứu THTM trong các tác phẩm tiêu biểu của Chế Lan Viên sẽ giúp làm nổi bật những giá trị nghệ thuật và tư tưởng mà ông muốn truyền tải đến độc giả.

4.2. Ứng Dụng Trong Giảng Dạy Văn Học

Việc áp dụng THTM trong giảng dạy văn học sẽ giúp học sinh, sinh viên hiểu rõ hơn về cách mà ngôn ngữ được sử dụng để tạo ra giá trị nghệ thuật trong thơ ca.

V. Kết Luận Về Tín Hiệu Thẩm Mỹ Trong Thơ Chế Lan Viên

Tín hiệu thẩm mỹ trong thơ Chế Lan Viên là một lĩnh vực nghiên cứu đầy tiềm năng. Việc khám phá THTM không chỉ giúp hiểu rõ hơn về tác phẩm mà còn góp phần làm phong phú thêm nền văn học Việt Nam.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu THTM

Nghiên cứu THTM trong thơ Chế Lan Viên hứa hẹn sẽ mở ra nhiều hướng đi mới cho các nghiên cứu văn học trong tương lai.

5.2. Giá Trị Của THTM Trong Văn Học

THTM không chỉ là một khái niệm lý thuyết mà còn là một công cụ hữu ích trong việc phân tích và đánh giá giá trị nghệ thuật của các tác phẩm văn học.

24/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Những vấn đề chung - Chương 2: Biểu hiện hình thức của các tín hiệu thẩm mĩ trong thơ Chế Lan Viên - Chương 3: Biểu hiện ý nghĩa của các tín hiệu thẩm mĩ trong thơ Chế Lan Viên 9 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Khái niệm tín hiệu Trong thực tế cuộc sống của mình, loài người đã phát hiện, làm quen, xây dựng và sử dụng nhiều kiểu loại tín hiệu (TH) khác nhau như: âm thanh, hệ thống đèn hay biển báo (giao thông), các kí hiệu (toán học, vật lí học),… để đại diện, ám chỉ, báo hiệu cho một thông tin nào đó vốn đã được cộng đồng ngầm quy ước, thừa nhận với nhau. Đó là cách ta dùng “một cái gì đó” làm TH thay thế cho đối tượng cụ thể hay một khái niệm trừu tượng. Trên cơ sở ra đời ấy của TH, đã có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm TH.

Khái niệm TH được nhắc đến lần đầu tiên trong học thuyết tín hiệu ngôn ngữ của de Saussure. Theo ông, TH có hai mặt, bao gồm cái biểu đạt (cbđ – hình thức vật chất cảm tính) và cái được biểu đạt (cđbđ – nội dung ý nghĩa). Hai mặt này gắn bó khắng khít với nhau và đã có cái này là có cái kia [7, tr. Sau này, Ch.Pierce đã đưa thêm vào cấu trúc nhị diện nhân tố thứ ba là cái lí giải (interpretant) [8, tr.

Nhưng phải đến khi Ch.Morris hệ thống hóa và xây dựng một lí thuyết tổng quát về TH thì ba chiều của TH mới thực sự có nghĩa trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khoa học và đặc biệt với ngành tín hiệu học [8, tr.Morris cũng như Ch.Pierce chia ra ba chiều của TH ngôn ngữ: thứ nhất là chiều kết học nghiên cứu các TH trong mối quan hệ với các TH khác, thứ hai là chiều nghĩa học nghiên cứu các TH trong mối quan hệ với các sự vật ở bên ngoài hệ thống TH, thứ ba là chiều dụng học nghiên cứu các TH trong những mối quan hệ với người sử dụng nó.Guiraud: Một TH…là một kích thích mà tác dụng của nó đến cơ thể gợi ra hình ảnh kí ức của một kích thích khác [8, tr. Đây là một quan niệm rộng bởi TH được hiểu bao gồm cả những TH hiểu theo nghĩa hẹp, cả những TH “nhận biết” và TH “giao tiếp” có tính chất bản năng của loài vật. Vì thế, một đám mây đen báo hiệu trời sắp mưa, đám khói bay lên cho biết ở đó có lửa, dấu chân người trên cát chứng tỏ có người vừa đi qua…đều có khả năng trở thành TH.Shaff định nghĩa TH theo nghĩa hẹp: Một vật vật chất hay thuộc tính của nó, một hiện tượng thực tế sẽ trở thành TH nếu như trong quá trình giao tiếp, 10 nó được nhân vật giao tiếp sử dụng trong khuôn khổ của một ngôn ngữ để truyền đạt một tư tưởng nào đó về thực tế, tức về thế giới bên ngoài hay về những cảm thụ nội tâm [8, tr.Schaff chỉ thừa nhận là TH khi nó mang chức năng giao tiếp, được con người sử dụng nhằm trao đổi tư tưởng, tình cảm của mình trong đời sống. Dù TH được hiểu theo nghĩa hẹp hay nghĩa rộng thì các ý kiến đều được thống nhất cho rằng TH là khái niệm quan hệ, không phải là khái niệm tự thân, muốn một cái gì đó trở thành TH thì nó phải nằm trong một hệ thống nhất định và có mối quan hệ với các sự vật khác.

Để thuận tiện trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi lấy định nghĩa rộng của F.Guiraud làm xuất phát điểm bởi vì nó các tác dụng phát hiện ra những đặc trưng TH của các TH ngôn ngữ. Như vậy, một sự vật muốn trở thành TH phải thỏa mãn các điều kiện sau đây: - TH phải có tính vật chất. Vật chất là một sự vật hoặc một thuộc tính vật chất như ánh sáng, màu sắc, âm thanh, vật thể…Nghĩa là, người ta có thể tri nhận được chúng bằng các giác quan. Cho nên các thuộc tính vật chất ấy của TH phải có khả năng kích thích vào các giác quan của con người và được con người cảm nhận, đáp ứng quá trình phát sinh TH và tiếp nhận TH.

Khác với TH của loài vật, vốn là quá trình tiếp nhận theo hướng phản xạ có điều kiện, quá trình tiếp nhận TH của con người là quá trình tiếp nhận có ý thức, cấp cao. - TH phải gợi ra, đại diện cho một cái gì đó khác với chính nó. Nói cách khác, TH phải mang nghĩa “được gán”, “được quy ước” khác với bản thân ý nghĩa vật chất của nó. Định nghĩa của Guiraud cũng đã chỉ rõ: Ý nghĩa của cái chỉ ra trong TH bao giờ cùng là một thực thể tâm lí thuộc tinh thần.

Chẳng hạn, hệ thống đèn giao thông màu đỏ, màu vàng, màu xanh đóng vai trò là cbđ. Nó mang chức năng gợi ra ý nghĩa về mặt tinh thần, cụ thể là truyền tải nội dung “đứng lại”, “chuẩn bị”, “được phép đi”. - TH phải được chủ thể tiếp nhận và lí giải được. Nói rõ hơn là chủ thể tiếp nhận phải có năng lực tri thức và lĩnh hội được mối quan hệ giữa cbđ và cđbđ của TH.

Muốn thế, quan hệ giữa lớp vỏ vật chất của TH và nội dung của TH phải dựa trên quy ước có ý thức của con người hoặc cộng đồng, xã hội được con người duy trì sự thừa nhận, tri thức và lĩnh hội như một điều tất yếu. Ví dụ 1: Một hồi chuông dài đối với học sinh là báo hiệu hết giờ học nhưng có thể là TH tập hợp quân đối với các quân binh. 11 Ví dụ 2: Tia sáng lọt qua khe cửa vào phòng của một đứa trẻ sơ sinh chưa phải là TH bởi vì đứa trẻ chưa lí giải được cđbđ từ tia sáng, mặc dù tia sáng vẫn kích thích cảm quan của đứa trẻ và gây được những phản ứng nhất định. Nhưng đối với người lớn, tia sáng là TH bởi vì học có thể rút ra một ý nghĩa nào đó, như “trời sáng”, “sắp đến giờ đi làm”… - TH phải nằm trong một hệ thống nhất định và có đặc điểm khác biệt với các yếu tố khác có cùng hệ thống.

Đây là điều kiện bắt buộc một cách hiển nhiên đối với những TH giao tiếp do con người đặt ra. TH sẽ không còn là TH khi tách khỏi hệ thống, bởi giá trị của nó có được là nhờ vào mối quan hệ của nó với các TH khác trong hệ thống. Mặt khác, một điều kiện hiển nhiên là hệ thống phải là một tổng thể bao gồm nhiều yếu tố, và các yếu tố đó nằm trong quan hệ đối lập nhằm tạo ra giá trị khu biệt của TH trong hệ thống. Phân loại tín hiệu Đã có nhiều nhiều cách phân loại khác nhau đối với TH.

Các nhà nghiên cứu TH học đã phân các TH thành những phạm trù (hay loại) khác nhau.Buhler chia các TH thành: Symbole (TH chỉ ra sự vật, đối tượng), Symptome (TH bộc lộ trong thái tâm sinh lí, tư tưởng, tình cảm của người nói), Signal (TH gây tác động tâm sinh lí cho người nghe [8, tr.Pierce phân chia TH thành ba loại chính: Hình hiệu (icones), chỉ hiệu (index), và ước hiệu (symbol) dựa theo tiêu chuẩn quan hệ giữa cbđ và cđbđ mà F.de Saussure đã đưa ra. Theo đó, đại đa số TH ngôn ngữ là thuộc loại ước hiệu, loại TH mà mối quan hệ giữa cbđ và cđbđ là hoàn toàn võ đoán, không giải thích được nguyên do. Loại TH này sẽ mất tư cách là TH nếu không có người lí giải [8, tr. Morris dựa vào mối quan hệ giữa TH với các loại sự vật mà chúng biểu thị đẻ chia TH thành hai loại: các chỉ hiệu (Single indexes) và định hiệu (Signes caracterisant).

Tiếp theo, ông lại phân chía các định hiệu ra thành hình hiệu và biểu trưng (symbole) [8, tr.Shaff xuất phát từ cơ sử chỉ xem TH gắn liền với chức năng giao tiếp, nên ông tiến hành phân loại như sau: đầu tiên ông phân TH thành TH nhân tạo và TH tự nhiên (TH đích thực). TH tự nhiên lại được chia thành TH từ và TH thực có khả năng bộc lộ nhất định lại được chia thành lệnh hiệu và định hiệu. Các định hiệu lại được chia thành định hiệu đích thực và symbole [8, tr.Guiraud từ năm 1950 đã đưa ra bảng phân loại TH. Ông phân chia TH dựa 12 trên mối quan hệ giữa thực tế với nhận thức của con người.

Trong đó, tác giả quan tâm tới những TH biểu hiện (TH không giao tiếp). Những TH biểu hiện về bản chất là các hình hiệu và chức năng của chúng không phải là công cụ giao tiếp mà là công cụ để phản ánh, miêu tả thực tế khách quan. Ví dụ như: bức ảnh, bản nhạc, tranh vẽ…Chúng là sản phẩm của các loại hình nghệ thuật và thuộc đối tượng nghiên cứu của nghệ thuật học.Guiraud tiếp tục phân chia TH thành TH tự nhiên và TH nhân tạo. Trong TH nhân tạo ông lại phân chia thành TH giao tiếp và TH không giao tiếp.

Ông còn dựa theo đặc tính thể chất của TH mà phân chia các TH thành TH thị giác, TH thính giác, TH xúc giác. Theo đặc tính chuyển mã hay chưa chuyển mã, ông chia các TH thành TH thứ cấp (còn gọi là kí hiệu) và TH sơ cấp…F.Guiraud cũng chỉ ra sự xâm nhập lẫn nhau của các loại TH [8, tr.714] Đỗ Hữu Châu cũng đã đưa bảng phân loại TH theo quan điểm riêng của mình. Theo ông, TH là một thực tế đa diện cho nên căn cứ vào các phương diện khác nhau có thể định ra các tiêu chí phân loại khác nhau. Mỗi lần vận dụng một tiêu chí phân loại là có một kết quả phân loại.

Những tiêu chí phân loại mà Đỗ Hữu Châu đưa ra là: 1/ Dựa vào đặc tính thể chất của cái biểu hiện, 2/ Dựa vào nguồn gốc của TH, 3/ Dựa vào mối quan hệ giữa cái hiểu hiện và cái được biểu hiện, 4/ Căn cứ vào chức năng xã hội của TH [8, tr. Dựa vào mặt thể chất của TH có thể phân chia ra được các loại TH như: tín hiệu màu sắc, tín hiệu âm thanh…trong đó, TH ngôn ngữ được coi là một loại TH đặc biệt. Tín hiệu ngôn ngữ Ngôn ngữ cũng là một TH bởi ngôn ngữ đáp ứng đầy đủ các điều kiện của một TH. Trong thực tế giao tiếp, ngôn ngữ bao gồm ba mối quan hệ chính: quan hệ giữa TH với TH, quan hệ giữa TH với thực tế và quan hệ giữa TH với nhân vật giao tiếp.

Ba quan hệ này lập thành ba bình diện tạo nên bản chất của TH ngôn ngữ: kết học, nghĩa học và dụng học. Ba bình diện này luôn được đặt trong mối quan hệ khăng khít với nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ