Chương 1: GIỚI THIỆU Chương 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Chương 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 7 Chương 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. LÝ THUYẾT VỀ DU LỊCH SINH THÁI 2. Khái niệm Du lịch sinh thái được hiểu theo khác nhau tùy vào góc độ tiếp cận. Hector Ceballos & Lascurain (1987): “Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên còn ít bị thay đổi, với những mục đích đặc biệt như: Nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa được khám phá”.
[24] Lindberg & Hawkins (1993): “Du lịch sinh thái là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên, là công cụ để bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương”. [29] Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (IUCN – International Union for Conservation of Nature and Natural Resources) cho rằng: “Du lịch sinh thái là tham quan và du lịch có trách nhiệm với môi trường tại các điểm tự nhiên không bị tàn phá để thưởng thức thiên nhiên và các đặc điểm văn hóa đã tồn tại trong quá khứ hoặc đang hiện hành, qua đó khuyến khích hoạt động bảo vệ, hạn chế những tác động tiêu cực do khách quan gây ra và tạo ra những lợi ích cho những người dân địa phương tham gia tích cực”. Luật Du lịch (2005) của Việt Nam định nghĩa: “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững”. [17] Từ những nội dung trên cho thấy, đa số ý kiến đều thống nhất rằng: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn và được nuôi dưỡng, quản lý theo hướng bền vững về mặt sinh thái”.
Theo đó, du khách sẽ được hướng dẫn tham quan với những diễn giải cần thiết về môi trường để nâng cao hiểu biết, cảm nhận được giá trị thiên nhiên và văn hóa mà không gây ra những tác động không thể chấp nhận đối với hệ sinh thái và văn hóa bản địa. Phân loại du lịch sinh thái Du lịch sinh thái là ngành kinh tế có định hướng tài nguyên rõ rệt. Tài nguyên du lịch sinh thái rất phong phú và đa dạng gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn. Do đó, du lịch sinh thái tồn tại với nhiều hình thức khác nhau.
Cụ thể : Du lịch biển: Đó là loại hình du lịch mà du khách đến thưởng ngoạn phong cảnh hữu tình của mặt biển, đáy biển; các phong cảnh đẹp của đảo, bán đảo; các sản phẩm do biển cung cấp như: Tôm, cua, sò, cá,… Mục tiêu chủ yếu của du khách là về với thiên nhiên, tham gia các hoạt động du lịch biển, đảo như tắm biển, thể thao biển, lặn biển, xem chim thú các loài động thực vật trên đảo, dưới biển, câu cá, thẻ mực, du thuyền trên biển,… Loại hình du lịch này thường bị ảnh hưởng bởi thời tiết, nhưng có một số nơi có thể tổ chức du lịch quanh năm. Mặt khác, điều kiện chất lượng mặt nước biển, bãi biển, độ dốc không phải nơi nào cũng phù hợp cho du lịch tắm biển. Loại hình này được những người có thu nhập ổn định ưa thích vì có thể lưu lại dài ngày. Du lịch rừng sinh thái thiên nhiên: Là loại hình du lịch mà du khách tham quan hệ thái thiên nhiên hoang dã, ngắm phong cảnh, xem chim thú,… Hệ sinh thái thiên nhiên điển hình là vườn quốc gia, khu dự trữ sinh quyển.
Đây là một khu vực thiên nhiên hoang dã có đặc điểm nổi bật về hệ sinh thái và các loài động, thực vật được bảo vệ để duy trì đảm bảo phát triển bền vững. Hệ sinh thái vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên là những vùng có sức hút lớn đối với khách du lịch. Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên được xây dựng nhằm ngăn chặn việc khai thác quá mức đời sống hoang dã và cảnh quan môi trường. Do tính độc đáo của nó, cho nên rất thuận lợi cho phát triển các loại hình du lịch như: Du lịch tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí ngoài trời, tìm hiểu thiên nhiên hoang dã, giáo dục, văn hóa, du lịch khám phá, cắm trại, xem chim thú, câu cá, đi bộ trong rừng,… Loại hình du lịch này có khả năng thu hút người có thu nhập cao, những người làm việc bận rộn, người thành thị họ muốn thưởng thức cuộc sống yên tĩnh, môi trường trong lành, tìm hiểu lịch sử, nghiên cứu khoa học,… Đây là hình thức tồn tại đặc trưng của du lịch sinh thái.
Loại hình này khuyến khích phát triển nhà nghỉ sinh thái, bảo tồn thiên nhiên, chống ô nhiễm môi trường. 9 Du lịch núi và hang động: Là loại hình du lịch mà du khách khám phá các đỉnh núi cao, hang động huyền ảo, ngắm phong cảnh, chim thú lạ,… Do tính độc đáo của loại hình du lịch này rất thích hợp cho du lịch tham quan, khám phá núi và hang động, cắm trại, mạo hiểm,… rất thích hợp cho những du khách ưa thích cảm giác mạnh. Du lịch thăm bản làng dân tộc: Đây là nguồn tài nguyên nhân văn ở các khu sinh thái tự nhiên. Ở các làng bản dân tộc, nét độc đáo thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đó là cộng đồng dân cư với vốn văn hóa truyền thống của họ như: Các món ăn đặc sản, kiến trúc nghệ thuật, lối sống, sinh hoạt lễ hội và văn hóa dân gian,… loại hình này rất hấp dẫn du khách nước ngoài.
Du lịch thôn quê: Làng quê là nơi có không khí trong lành, cảnh vật thanh bình và không gian thoáng đãng. Tất cả các yếu tố đó lại hoàn toàn không tìm thấy được ở thành thị. Như vậy, về nông thôn có thể giúp cho du khách nghỉ ngơi, thư giãn, phục hồi sức khỏe sau những chuỗi ngày làm việc căng thẳng. Ngoài ra khi du lịch về các vùng thôn quê thì giá cả nhiều hàng hóa nông sản thực phẩm rẻ hơn, tươi ngon hơn.
Người dân ở làng quê tình cảm chân thành, mến khách và trung thực. Loại hình du lịch thôn quê được ưa thích là tham quan phong cảnh làng quê, du thuyền trên sông nước, câu cá, thăm vườn cây ăn trái, trải nghiệm cuộc sống làng quê, ở nhà dân, du lịch về nguồn, thăm giếng người thân. Du lịch gắn với chữa bệnh: Là loại hình du lịch thưởng ngoạn cảnh quan thiên nhiên, yên tĩnh, môi trường trong lành gắn với chữa bệnh như suối nước nóng, nghỉ dưỡng,… loại hình này rất thích hợp cho người lớn tuổi. Đặc trưng cơ bản của du lịch sinh thái tại Việt Nam Du lịch sinh thái là một dạng của du lịch, vì vậy nó cũng bao gồm tất cả những đặc trưng cơ bản của hoạt động du lịch nói chung, bao gồm: Tính đa ngành; Tính đa thành phần; Tính đa mục tiêu; Tính liên vùng; Tính mùa vụ; Tính xã hội hóa.
Bên cạnh các đặc trưng chung của ngành du lịch thì du lịch sinh thái tại Việt Nam cũng hàm chứa những đặc trưng riêng: Phát triển dựa vào tính hấp dẫn của thiên nhiên và văn hóa bản địa: Mọi hoạt 10 động phát triển du lịch nói chung và du lịch sinh thái nói riêng đều được thực hiện trên cơ sở khai thác những giá trị của tài nguyên du lịch tự nhiên, văn hóa, lịch sử kèm theo các điều kiện về cơ sở hạ tầng và dịch vụ. Kết quả của quá trình khai thác đó là sự hình thành những sản phẩm du lịch từ các tiềm năng về tài nguyên, văn hóa bản địa đem lại lợi ích cho xã hội. Quản lý bền vững về môi trường sinh thái: Trước tiên đó là những lợi ích về kinh tế - xã hội, tạo ra nhiều cơ hội việc làm, nâng cao đời sống kinh tế cho cộng đồng địa phương thông qua các dịch vụ du lịch, tạo điều kiện cho việc bảo tồn các giá trị văn hóa, lịch sử và sự đa dạng của thiên nhiên nơi có những hoạt động phát triển du lịch. Kể đến là những lợi ích đem lại cho khách du lịch trong việc hưởng thụ các cảnh quan thiên nhiên mới lạ và độc đáo, các truyền thống văn hóa lịch sử, những đặc thù dân tộc mà trước đó họ chưa biết tới, từ đó xác lập ý thức trách nhiệm về bảo tồn sự toàn vẹn của các giá trị thiên nhiên, văn hóa lịch sử của nơi họ đến nói riêng và của hành tinh nói chung.
Tính giáo dục cao về môi trường: Du lịch sinh thái hướng con người tiếp cận gần hơn nữa với các vùng tự nhiên và các khu bảo tồn, nơi có giá trị cao về đa dạng sinh học và rất nhạy cảm về mặt môi trường. Và vì vậy, hoạt động du lịch sinh thái có tác dụng giáo dục con người bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường, qua đó hình thành ý thức bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như thúc đẩy các hoạt động bảo tồn, đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững. Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương: Cộng đồng địa phương chính là những người chủ sở hữu các nguồn tài nguyên thiên nhiên tại địa phương mình. Phát triển du lịch sinh thái hướng con người đến các vùng tự nhiên hoang sơ, có giá trị cao về đa dạng sinh học, điều này đặt ra một yêu cầu cấp bách là cần phải có sự tham gia của cộng đồng địa phương tại khu vực đó, bởi vì hơn ai hết chính những người dân địa phương tại đây hiểu rõ nhất về các nguồn tài nguyên của mình.
Sự tham gia của cộng đồng địa phương có tác dụng to lớn trong giáo dục du khách bảo vệ các nguồn tài nguyên và môi trường, đồng thời cũng góp phần nâng cao hơn nữa nhận thức cho cộng đồng, tăng các nguồn thu nhập cho cộng đồng. Vai trò của việc phát triển du lịch sinh thái 2. Góp phần phát triển kinh tế - xã hội - Tích lũy vốn cho phát triển nông nghiệp và công nghiệp: Du lịch sinh thái có tác động tích cực góp phần làm tăng trưởng kinh tế của các quốc gia. Du lịch sinh thái đạt hiệu quả kinh tế cao là nguồn thu đáng kể cho ngân sách nhà nước và được xem là ngành “công nghiệp không khói”, “xuất khẩu tại chỗ” đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn góp phần tăng nhanh nguồn thu cho vùng du lịch, thông qua tiêu dùng sản phẩm du lịch và xuất khẩu hàng hóa.
Thông qua tiêu dùng sản phẩm du lịch sinh thái, tác động đến lưu thông hàng hóa và dịch vụ.