CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG VÀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG CHO NGƯỜI NGHÈO 1.1 Các vấn đề về nghèo đói Nghèo là khái niệm được hiểu theo nhiều cách, hàm chứa đa nội dung và có thể được diễn giải không giống nhau. Vì vậy, không có một khái niệm duy nhất về nghèo. Việc đo lường được từng khía cạnh về nghèo một cách thống nhất là điều rất khó, còn gộp tất cả những khía cạnh đó vào một số chỉ số nghèo, thước đo đói duy nhất sẽ dẫn đến những kết quả thiếu chính xác, tuy nhiên đây vẫn là cách duy nhất để phân loại hộ thuộc dạng nghèo. Nghèo được định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân, nghèo không chỉ đơn giản là mức thu nhập thấp mà còn thiếu thốn trong việc tiếp cận dịch vụ, như giáo dục, văn hóa, thuốc men, không chỉ thiếu tiền mặt, thiếu những điều kiện tốt hơn cho cuộc sống mà còn thiếu thể chế kinh tế thị trường hiệu quả, trong đó có các thị trường đất đai, vốn và lao động cũng như các thể chế nhà nước được cải thiện có trách nhiệm giải trình và vận hành trong khuôn khổ pháp lý minh bạch cũng như một môi trường kinh doanh thuận lợi.
Mức nghèo còn là tình trạng đe dọa bị mất những phẩm chất quý giá, đó là lòng tin và lòng tự trọng. Theo báo cáo phát triển Việt Nam 2004: “Nghèo là tình trạng thiếu thốn ở nhiều phương diện. Thu nhập hạn chế hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để bảo đảm tiêu dùng trong những lúc khó khăn và dễ bị tổn thương trước những đột biến bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu và những khó khăn tới người có khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định, cảm giác bị sỉ nhục, không được người khác tôn trọng…” (Phùng Đức Tùng, 2000). Các nhà lập chính sách Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực châu Á tổ chức tại Băng Cốc, 5 Thái Lan 9/1993: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương” (Phùng Đức Tùng, 2000; Nguyễn Thị Hoa, 2009; Giang Thanh Long, 2009).
Dù có sự khác biệt trong cách nhìn nhận về vấn đề nghèo, nhưng tựu trung lại các khái niệm này đều phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của người nghèo là: Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư; Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người; Thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng.1 Nghèo tuyệt đối Khái niệm này nhằm biểu thị một mức thu nhập tối thiểu, cần thiết để đảm bảo những nhu cầu vật chất cơ bản như lương thực, quần áo, nhà ở để cho mỗi người có thể tiếp tục tồn tại. Nghèo tuyệt đối (absolute poverty) là thước đo những người dưới một ngưỡng nghèo nhất định, tính chung cho toàn thể nhân loại, không kể không gian hay thời gian. Nó được xác định bằng số thu nhập cho 1 cá nhân đủ khả năng đáp ứng những nhu cầu cơ bản để tồn tại, như thức ăn, nơi ở, quần áo,. Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn các nhu cầu tối thiểu của cuộc sống (Nguyễn Thị Hoa, 2009).
Trên thế giới, các quốc gia thường dựa vào tiêu chuẩn về mức thu nhập của Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra để phân tích tình trạng nghèo của quốc gia. Mỗi quốc gia cũng xác định mức thu nhập tối thiểu riêng của nước mình dựa vào điều kiện cụ thể về kinh tế trong từng giai đoạn phát triển nhất định, do đó mức thu nhập tối thiểu được thay đổi và nâng dần lên ( Đỗ Thiên Kính, 2003; Nguyễn Thị Hoa, 2009; Giang Thanh Long, 2009). Đối với Ngân Hàng Thế Giới (WB): WB đưa ra hai mức chuẩn là thu nhập dưới 1 đô la Mỹ 1 ngày và thu nhập dưới 2 đô la Mỹ 1 ngày được 6 chuyển đổi theo sức mua tương đương (PPP) của đô la Mỹ năm 1993. Đây là ngưỡng chi tiêu có thể đảm bảo mức cung cấp năng lượng tối thiểu cần thiết cho con người, mức chuẩn đó là 2.100 calo/người/ngày.
Ngưỡng nghèo này gọi là ngưỡng nghèo lương thực, thực phẩm (nghèo ở mức độ thấp). Vì mức chi tiêu này chỉ đảm bảo mức chuẩn về cung cấp năng lượng, mà không đủ chi tiêu cho những hàng hoá phi lương thực. Những người có mức chi tiêu dưới mức chi cần thiết để đạt được 2.100 calo/ngày gọi là “nghèo về lương thực, thực phẩm”. Ngoài ra, WB còn đưa ra ngưỡng nghèo chung đó là ngưỡng bao gồm cả mặt hàng lương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm (Nguyễn Thị Hoa, 2009).1 : Tiêu chuẩn nghèo đói của WB Mức thu nhập tối thiểu Khu vực (USD/người/ngày) Các nước đang phát triển khác 1 USD (hoặc 365 USD/năm) Châu Mỹ Latinh và Caribe 2 Đông Âu 4 Các nước phát triển 14,4 Đối với Việt Nam có hai cách tiếp cận: - Phương pháp của Tổng cục Thống kê dựa vào thu nhập bình quân đầu người.
- Phương pháp của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội dựa trên thu nhập của hộ gia đình. Chuẩn nghèo theo Tổng cục Thống kê được xác định dựa trên cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới (WB), gồm hai mức: + Nghèo lương thực thực phẩm: Ngưỡng nghèo lương thực, thực phẩm chính là số tiền cần thiết để mua được một số lương thực, thực phẩm hằng ngày để đảm bảo mức độ dinh dưỡng. Tổng chi dùng chỉ tính riêng cho phần 7 lương thực thực phẩm, làm sao để đảm bảo lượng dinh dưỡng tối thiểu cho một người là 2100 kcal/ngày đêm; + Nghèo chung (hay nghèo chi tiêu): Ngưỡng nghèo chung cao hơn, nó bao gồm cả phần chi tiêu cho hàng hoá phi lương thực. Tổng chi dùng cho cả giỏ hàng tiêu dùng tối thiểu, được xác định bằng cách ước lượng tỷ lệ: 70% chi dùng dành cho lương thực thực phẩm, 30% cho các khoản còn lại.
Theo phương pháp của Bộ Lao động thương binh và Xã hội, nghèo được xác định theo chuẩn nghèo đói quốc gia. Theo Quyết định số 170/2005/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 8 tháng 7 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 thì ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo. Chuẩn nghèo mới áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 theo Chỉ thị số 1752/CT-TTg ngày 21-9-2010 của Thủ tướng Chính phủ, mức chuẩn nghèo và cận nghèo được xác định, những hộ có thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống là hộ nghèo (khu vực nông thôn), đối với khu vực thành thị hộ nghèo là những hộ có mức thu nhập bình quân 500.000 đồng/người/tháng; Hộ cận nghèo là những hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng (khu vực nông thôn), đối với khu vực thành thị là từ 501.000 đồng/người/tháng (http://www.2 Nghèo tương đối Nghèo tương đối là tình trạng sống dưới 1 mức tiêu chuẩn sống có thể chấp nhận được tại 1 địa điểm và thời gian xác định. Như vậy, nghèo tương đối có sự khác biệt tùy theo đặc điểm kinh tế, văn hóa-xã hội, quan niệm của từng quốc gia, khu vực, vùng miền khác nhau.
Nghèo đói tương đối là tình 8 trạng mà một người, hoặc một hộ gia đình thuộc về nhóm người có thu nhập thấp nhất trong xã hội theo những địa điểm cụ thể và thời gian nhất định (Nguyễn Thị Hoa, 2009). Như vậy nghèo đói tương đối được xét trong tương quan xã hội, phụ thuộc địa điểm dân cư sinh sống và phương thức tiêu thụ phổ biến nơi đó. Sự nghèo khổ tương đối được hiểu là những người sống dưới mức tiêu chuẩn, có thể chấp nhận được trong những địa điểm và thời gian xác định. Đây là những người cảm thấy bị tước đoạt những cái mà đại bộ phận những người khác trong xã hội được hưởng.
Do đó, chuẩn mực để xem xét nghèo khổ tương đối thường khác nhau giữa các nước, hoặc các vùng, và sẽ luôn hiện diện bất kể trình độ phát triển kinh tế xã hội nào. Nghèo khổ tương đối cũng là một hình thức biểu hiện sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập.3 Vấn đề lý luận về xoá đói giảm nghèo 1.1 Khái niệm xoá đói giảm nghèo và vai trò của xoá đói giảm nghèo Xoá đói giảm nghèo là tổng thể các biện pháp chính sách của nhà nước và xã hội hay là của chính những đối tượng thuộc diện nghèo đói, nhằm tạo điều kiện để họ có thể tăng thu nhập, thoát khỏi tình trạng thu nhập không đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu trên cơ sở chuẩn nghèo được quy định theo từng địa phương, khu vực, quốc gia (Nguyễn Trọng Hoài, Võ Tất Thắng và Lương Vinh Quốc Duy, 2005; Nguyễn Thị Hoa, 2009; Giang Thanh Long, 2009). Xoá đói giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ biện chứng với nhau. Tăng trưởng kinh tế tạo ra cơ sở, điều kiện vật chất để xoá đói giảm nghèo.
Ngược lại, xoá đói giảm nghèo là nhân tố đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế bền vững. Xoá đói giảm nghèo là yêu cầu cần thiết ổn định chính trị, xã hội. Trong những năm gần đây một số vấn đề về chính trị, xã hội ở một số vùng miền núi và những nơi khó khăn diễn biến phức tạp. Điều đó có nghĩa là xoá đói giảm nghèo ở nước ta không đơn thuần là một 9 chương trình kinh tế mà còn là chương trình mang ý nghĩa ổn định chính trị, xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân vào chế độ (Nguyễn Thị Hoa, 2009).
Nếu giải quyết không thành công vấn đề xoá đói giảm nghèo sẽ không thể thực hiện được mục tiêu công bằng xã hội và phát triển kinh tế mà Việt Nam đang phấn đấu.2 Nội dung của công tác xoá đói giảm nghèo Xoá đói giảm nghèo trên lý thuyết được thực hiện trên hai nội dung chính (Nguyễn Trọng Hoài, Võ Tất Thắng và Lương Vinh Quốc Duy, 2005; Nguyễn Thị Hoa, 2009): + Tạo điều kiện cho người nghèo có điều kiện phát triển sản xuất, gia tăng thu nhập cho người nghèo, vùng nghèo bằng các biện pháp: Thứ nhất, cấp tín dụng ưu đãi cho người nghèo giúp họ có vốn sản xuất, và từ đó có thể thoát nghèo.