Hiệu Quả Sử Dụng Tín Dụng Trong Xóa Đói Giảm Nghèo Tại Huyện Ea H’Leo, Tỉnh Đăk Lăk

Tài liệu Tín dụng và hiệu quả xóa đói giảm nghèo tại huyện ea h’leo, đăk lăk tổng hợp lý thuyết và thực hành, phục vụ học tập ngành

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2013

87
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG VÀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG TRONG CÔNG TÁC XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO TẠI HUYỆN EA H’LEO, TỈNH ĐĂK LĂK

1.1. Các vấn đề về nghèo đói

1.1.1. Nghèo tuyệt đối

1.1.2. Nghèo tương đối

1.2. Vấn đề lý luận về xoá đói giảm nghèo

1.2.1. Khái niệm xoá đói giảm nghèo và vai trò của xoá đói giảm nghèo

1.2.2. Nội dung của công tác xoá đói giảm nghèo

1.3. Khái niệm về tài chính vi mô

1.3.1. Tín dụng vi mô

1.3.2. Tín dụng vi mô và đói nghèo

1.3.2.1. Tín dụng đối với người nghèo
1.3.2.2. Đặc điểm chung của tín dụng vi mô
1.3.2.3. Vai trò của tín dụng vi mô trong việc hỗ trợ cho người nghèo

1.3.3. Các phương pháp cấp tín dụng cho người nghèo

1.3.4. Tổ chức cấp tín dụng vi mô

1.4. Hiệu quả sử dụng vốn tín dụng trong công tác xoá đói giảm nghèo

1.4.1. Khái niệm về hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo

1.4.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo

1.4.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo

1.4.4. Kinh nghiệm về hiệu quả sử dụng tín dụng cho người nghèo trên thế giới và tại Việt Nam

1.4.4.1. Kinh nghiệm về hiệu quả sử dụng tín dụng cho người nghèo trên thế giới
1.4.4.1.1. Mô hình tín dụng vi mô tại Bangladesh
1.4.4.1.2. Bank Rakyat Indonesia (BRI)
1.4.4.1.3. Swayam Krishi Sangam (SKS) Ấn Độ
1.4.4.2. Kinh nghiệm về hiệu quả sử dụng tín dụng cho người nghèo ở Việt Nam
1.4.4.2.1. Chương trình 135
1.4.4.2.2. Chương trình nông thôn mới - Kinh nghiệm giảm nghèo từ xã Ea Tiêu, Cư Kuin, Đăk Lăk
1.4.4.2.3. Giảm nghèo ở tỉnh Kiên Giang
1.4.4.2.4. Bài học từ Khánh Hòa

1.4.5. Tổng quan về mô hình xác định yếu tố quyết định đến hiệu quả sử dụng tín dụng cho người nghèo

1.4.5.1. Mô hình xác định chỉ số đa dạng hóa nguồn thu nhập (SDI)
1.4.5.2. Mô hình kinh tế lượng

1.5. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÍN DỤNG TRONG CÔNG TÁC XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO TẠI HUYỆN EA H’LEO, TỈNH ĐĂK LĂK

2.1. Tình hình cơ bản của huyện Ea H’leo

2.1.1. Khái quát về huyện Ea H’leo

2.1.2. Tình hình sử dụng đất đai và sản xuất nông nghiệp ở huyện Ea H’leo

2.1.3. Khái quát về hai xã Ea Sol và Ea Hiao

2.1.4. Những thuận lợi và khó khăn trong công tác giảm nghèo ở Ea H’leo

2.1.5. Xác định hộ nghèo theo tiêu chuẩn nghèo đói quốc gia

2.2. Thực trạng vốn vay tại các hộ nghèo trên địa bàn xã Ea Sol và Ea Hiao

2.2.1. Vai trò của các tổ chức, chương trình trong việc cấp vốn cho hộ nghèo ở hai xã Ea Sol và Ea Hiao

2.2.2. Tình hình vốn vay cho hộ nghèo và lãi suất cho vay của các ngân hàng trên địa bàn huyện Ea H’leo, tỉnh Đăk Lăk

2.2.2.1. Tình hình vốn vay cho hộ nghèo
2.2.2.2. Lãi suất cho vay hộ của các ngân hàng trên địa bàn huyện
2.2.2.3. Tình hình dư nợ, thu nợ của các khoản vay nhỏ tại hộ vay
2.2.2.4. Giá trị gia tăng và quy mô vốn vay

2.3. Hiệu quả của các khoản tín dụng trong công tác xoá đói giảm nghèo tại huyện Ea H’leo

2.3.1. Mô hình nghiên cứu đề xuất

2.3.2. Phân tích kết quả hồi quy

2.3.3. Phân tích các nhân tố dựa vào mô hình hồi quy

2.4. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÍN DỤNG TRONG CÔNG TÁC XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO TẠI HUYỆN EA H’LEO TỈNH ĐĂK LĂK

3.1. Định hướng mục tiêu của huyện Ea H’leo tỉnh Đăk Lăk

3.1.1. Mục tiêu tổng quát công tác giảm nghèo của huyện Ea H’leo

3.1.2. Mục tiêu cụ thể

3.1.3. Đổi mới công tác khuyến nông theo hướng kết hợp với kiến thức quản lý kinh tế hộ

3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tín dụng trong công tác xoá đói giảm nghèo tại huyện Ea H’leo, tỉnh Đăk Lăk

3.2.1. Giải pháp tạo việc làm cho hộ nghèo ngay tại địa phương

3.2.2. Đa dạng hóa thu nhập của hộ nghèo

3.2.3. Hỗ trợ vốn là tạo cơ hội thoát nghèo

3.2.4. Chính sách về đất đai canh tác

3.2.5. Vấn đề lao động và ứng dụng khoa học kỹ thuật

3.2.6. Chính sách đối với người nghèo là dân tộc ít người

3.2.6.1. Đối với Nhà nước và địa phương
3.2.6.2. Đối với các tổ chức tài chính cấp vốn cho người nghèo

Danh mục tài liệu tham khảo

Phụ lục

Tóm tắt

I. Tổng quan về tín dụng và hiệu quả xóa đói giảm nghèo tại huyện Ea H Leo

Tín dụng đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các hộ nghèo tại huyện Ea H’Leo, tỉnh Đăk Lăk. Việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn tín dụng không chỉ giúp cải thiện đời sống mà còn tạo ra cơ hội phát triển bền vững cho người dân. Nghiên cứu này sẽ phân tích các khía cạnh của tín dụng và hiệu quả của nó trong công tác xóa đói giảm nghèo.

1.1. Khái niệm tín dụng và vai trò của nó trong xóa đói giảm nghèo

Tín dụng được hiểu là nguồn vốn vay từ các tổ chức tài chính nhằm hỗ trợ người nghèo. Vai trò của tín dụng trong việc xóa đói giảm nghèo là rất lớn, giúp người dân có khả năng đầu tư vào sản xuất và cải thiện thu nhập.

1.2. Hiệu quả của tín dụng trong công tác xóa đói giảm nghèo

Hiệu quả của tín dụng được đánh giá qua việc tăng thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống của hộ nghèo. Nghiên cứu cho thấy rằng, những hộ được tiếp cận tín dụng có khả năng thoát nghèo cao hơn so với những hộ không được vay vốn.

II. Thách thức trong việc sử dụng tín dụng tại huyện Ea H Leo

Mặc dù tín dụng có vai trò quan trọng, nhưng việc sử dụng tín dụng tại huyện Ea H’Leo vẫn gặp nhiều thách thức. Các vấn đề như lãi suất cao, thiếu thông tin và khả năng tiếp cận tín dụng còn hạn chế là những rào cản lớn.

2.1. Lãi suất và khả năng tiếp cận tín dụng

Lãi suất cao là một trong những nguyên nhân khiến hộ nghèo khó tiếp cận tín dụng. Nhiều hộ không đủ khả năng chi trả lãi suất, dẫn đến việc không dám vay vốn.

2.2. Thiếu thông tin và kiến thức tài chính

Nhiều hộ nghèo thiếu kiến thức về tài chính và không biết cách sử dụng tín dụng một cách hiệu quả. Điều này dẫn đến việc họ không thể tận dụng tối đa nguồn vốn vay.

III. Phương pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tín dụng tại huyện Ea H Leo

Để nâng cao hiệu quả sử dụng tín dụng, cần có các phương pháp cụ thể nhằm hỗ trợ hộ nghèo trong việc tiếp cận và sử dụng vốn vay. Các giải pháp này bao gồm đào tạo kiến thức tài chính và cải thiện chính sách tín dụng.

3.1. Đào tạo kiến thức tài chính cho hộ nghèo

Đào tạo kiến thức tài chính giúp hộ nghèo hiểu rõ hơn về cách sử dụng tín dụng. Các chương trình đào tạo cần được tổ chức thường xuyên và dễ tiếp cận.

3.2. Cải thiện chính sách tín dụng

Cần có các chính sách tín dụng ưu đãi hơn cho hộ nghèo, như giảm lãi suất và tăng thời gian vay. Điều này sẽ giúp họ có thêm cơ hội để phát triển kinh tế.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu tại huyện Ea H Leo

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng các giải pháp tín dụng hiệu quả đã mang lại nhiều kết quả tích cực cho hộ nghèo tại huyện Ea H’Leo. Các hộ được vay vốn đã có sự cải thiện rõ rệt trong thu nhập và đời sống.

4.1. Kết quả từ các dự án tín dụng

Các dự án tín dụng đã giúp nhiều hộ nghèo tăng thu nhập và cải thiện điều kiện sống. Nhiều hộ đã có thể đầu tư vào sản xuất nông nghiệp và kinh doanh nhỏ.

4.2. Tác động đến cộng đồng

Việc cải thiện đời sống của hộ nghèo không chỉ giúp họ thoát nghèo mà còn tạo ra tác động tích cực đến cộng đồng, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội của huyện.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho tín dụng tại huyện Ea H Leo

Kết luận cho thấy rằng tín dụng là một công cụ quan trọng trong công tác xóa đói giảm nghèo tại huyện Ea H’Leo. Để đạt được hiệu quả cao hơn, cần có sự phối hợp giữa các tổ chức tài chính và chính quyền địa phương.

5.1. Định hướng phát triển tín dụng trong tương lai

Cần xây dựng các chương trình tín dụng phù hợp với nhu cầu của hộ nghèo, đồng thời cải thiện các chính sách hỗ trợ để tạo điều kiện thuận lợi cho họ.

5.2. Tăng cường hợp tác giữa các bên liên quan

Hợp tác giữa các tổ chức tài chính, chính quyền và cộng đồng là rất cần thiết để nâng cao hiệu quả của tín dụng trong công tác xóa đói giảm nghèo.

27/07/2025
Hiệu quả sử dụng tín dụng trong công tác xóa đói giảm nghèo trên địa bàn huyện ea hleo tỉnh đăklăk luận văn thạc sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG VÀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG CHO NGƯỜI NGHÈO 1.1 Các vấn đề về nghèo đói Nghèo là khái niệm được hiểu theo nhiều cách, hàm chứa đa nội dung và có thể được diễn giải không giống nhau. Vì vậy, không có một khái niệm duy nhất về nghèo. Việc đo lường được từng khía cạnh về nghèo một cách thống nhất là điều rất khó, còn gộp tất cả những khía cạnh đó vào một số chỉ số nghèo, thước đo đói duy nhất sẽ dẫn đến những kết quả thiếu chính xác, tuy nhiên đây vẫn là cách duy nhất để phân loại hộ thuộc dạng nghèo. Nghèo được định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân, nghèo không chỉ đơn giản là mức thu nhập thấp mà còn thiếu thốn trong việc tiếp cận dịch vụ, như giáo dục, văn hóa, thuốc men, không chỉ thiếu tiền mặt, thiếu những điều kiện tốt hơn cho cuộc sống mà còn thiếu thể chế kinh tế thị trường hiệu quả, trong đó có các thị trường đất đai, vốn và lao động cũng như các thể chế nhà nước được cải thiện có trách nhiệm giải trình và vận hành trong khuôn khổ pháp lý minh bạch cũng như một môi trường kinh doanh thuận lợi.

Mức nghèo còn là tình trạng đe dọa bị mất những phẩm chất quý giá, đó là lòng tin và lòng tự trọng. Theo báo cáo phát triển Việt Nam 2004: “Nghèo là tình trạng thiếu thốn ở nhiều phương diện. Thu nhập hạn chế hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để bảo đảm tiêu dùng trong những lúc khó khăn và dễ bị tổn thương trước những đột biến bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu và những khó khăn tới người có khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định, cảm giác bị sỉ nhục, không được người khác tôn trọng…” (Phùng Đức Tùng, 2000). Các nhà lập chính sách Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực châu Á tổ chức tại Băng Cốc, 5 Thái Lan 9/1993: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương” (Phùng Đức Tùng, 2000; Nguyễn Thị Hoa, 2009; Giang Thanh Long, 2009).

Dù có sự khác biệt trong cách nhìn nhận về vấn đề nghèo, nhưng tựu trung lại các khái niệm này đều phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của người nghèo là: Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư; Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người; Thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng.1 Nghèo tuyệt đối Khái niệm này nhằm biểu thị một mức thu nhập tối thiểu, cần thiết để đảm bảo những nhu cầu vật chất cơ bản như lương thực, quần áo, nhà ở để cho mỗi người có thể tiếp tục tồn tại. Nghèo tuyệt đối (absolute poverty) là thước đo những người dưới một ngưỡng nghèo nhất định, tính chung cho toàn thể nhân loại, không kể không gian hay thời gian. Nó được xác định bằng số thu nhập cho 1 cá nhân đủ khả năng đáp ứng những nhu cầu cơ bản để tồn tại, như thức ăn, nơi ở, quần áo,. Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn các nhu cầu tối thiểu của cuộc sống (Nguyễn Thị Hoa, 2009).

Trên thế giới, các quốc gia thường dựa vào tiêu chuẩn về mức thu nhập của Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra để phân tích tình trạng nghèo của quốc gia. Mỗi quốc gia cũng xác định mức thu nhập tối thiểu riêng của nước mình dựa vào điều kiện cụ thể về kinh tế trong từng giai đoạn phát triển nhất định, do đó mức thu nhập tối thiểu được thay đổi và nâng dần lên ( Đỗ Thiên Kính, 2003; Nguyễn Thị Hoa, 2009; Giang Thanh Long, 2009). Đối với Ngân Hàng Thế Giới (WB): WB đưa ra hai mức chuẩn là thu nhập dưới 1 đô la Mỹ 1 ngày và thu nhập dưới 2 đô la Mỹ 1 ngày được 6 chuyển đổi theo sức mua tương đương (PPP) của đô la Mỹ năm 1993. Đây là ngưỡng chi tiêu có thể đảm bảo mức cung cấp năng lượng tối thiểu cần thiết cho con người, mức chuẩn đó là 2.100 calo/người/ngày.

Ngưỡng nghèo này gọi là ngưỡng nghèo lương thực, thực phẩm (nghèo ở mức độ thấp). Vì mức chi tiêu này chỉ đảm bảo mức chuẩn về cung cấp năng lượng, mà không đủ chi tiêu cho những hàng hoá phi lương thực. Những người có mức chi tiêu dưới mức chi cần thiết để đạt được 2.100 calo/ngày gọi là “nghèo về lương thực, thực phẩm”. Ngoài ra, WB còn đưa ra ngưỡng nghèo chung đó là ngưỡng bao gồm cả mặt hàng lương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm (Nguyễn Thị Hoa, 2009).1 : Tiêu chuẩn nghèo đói của WB Mức thu nhập tối thiểu Khu vực (USD/người/ngày) Các nước đang phát triển khác 1 USD (hoặc 365 USD/năm) Châu Mỹ Latinh và Caribe 2 Đông Âu 4 Các nước phát triển 14,4 Đối với Việt Nam có hai cách tiếp cận: - Phương pháp của Tổng cục Thống kê dựa vào thu nhập bình quân đầu người.

- Phương pháp của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội dựa trên thu nhập của hộ gia đình. Chuẩn nghèo theo Tổng cục Thống kê được xác định dựa trên cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới (WB), gồm hai mức: + Nghèo lương thực thực phẩm: Ngưỡng nghèo lương thực, thực phẩm chính là số tiền cần thiết để mua được một số lương thực, thực phẩm hằng ngày để đảm bảo mức độ dinh dưỡng. Tổng chi dùng chỉ tính riêng cho phần 7 lương thực thực phẩm, làm sao để đảm bảo lượng dinh dưỡng tối thiểu cho một người là 2100 kcal/ngày đêm; + Nghèo chung (hay nghèo chi tiêu): Ngưỡng nghèo chung cao hơn, nó bao gồm cả phần chi tiêu cho hàng hoá phi lương thực. Tổng chi dùng cho cả giỏ hàng tiêu dùng tối thiểu, được xác định bằng cách ước lượng tỷ lệ: 70% chi dùng dành cho lương thực thực phẩm, 30% cho các khoản còn lại.

Theo phương pháp của Bộ Lao động thương binh và Xã hội, nghèo được xác định theo chuẩn nghèo đói quốc gia. Theo Quyết định số 170/2005/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 8 tháng 7 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 thì ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo. Chuẩn nghèo mới áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 theo Chỉ thị số 1752/CT-TTg ngày 21-9-2010 của Thủ tướng Chính phủ, mức chuẩn nghèo và cận nghèo được xác định, những hộ có thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống là hộ nghèo (khu vực nông thôn), đối với khu vực thành thị hộ nghèo là những hộ có mức thu nhập bình quân 500.000 đồng/người/tháng; Hộ cận nghèo là những hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng (khu vực nông thôn), đối với khu vực thành thị là từ 501.000 đồng/người/tháng (http://www.2 Nghèo tương đối Nghèo tương đối là tình trạng sống dưới 1 mức tiêu chuẩn sống có thể chấp nhận được tại 1 địa điểm và thời gian xác định. Như vậy, nghèo tương đối có sự khác biệt tùy theo đặc điểm kinh tế, văn hóa-xã hội, quan niệm của từng quốc gia, khu vực, vùng miền khác nhau.

Nghèo đói tương đối là tình 8 trạng mà một người, hoặc một hộ gia đình thuộc về nhóm người có thu nhập thấp nhất trong xã hội theo những địa điểm cụ thể và thời gian nhất định (Nguyễn Thị Hoa, 2009). Như vậy nghèo đói tương đối được xét trong tương quan xã hội, phụ thuộc địa điểm dân cư sinh sống và phương thức tiêu thụ phổ biến nơi đó. Sự nghèo khổ tương đối được hiểu là những người sống dưới mức tiêu chuẩn, có thể chấp nhận được trong những địa điểm và thời gian xác định. Đây là những người cảm thấy bị tước đoạt những cái mà đại bộ phận những người khác trong xã hội được hưởng.

Do đó, chuẩn mực để xem xét nghèo khổ tương đối thường khác nhau giữa các nước, hoặc các vùng, và sẽ luôn hiện diện bất kể trình độ phát triển kinh tế xã hội nào. Nghèo khổ tương đối cũng là một hình thức biểu hiện sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập.3 Vấn đề lý luận về xoá đói giảm nghèo 1.1 Khái niệm xoá đói giảm nghèo và vai trò của xoá đói giảm nghèo Xoá đói giảm nghèo là tổng thể các biện pháp chính sách của nhà nước và xã hội hay là của chính những đối tượng thuộc diện nghèo đói, nhằm tạo điều kiện để họ có thể tăng thu nhập, thoát khỏi tình trạng thu nhập không đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu trên cơ sở chuẩn nghèo được quy định theo từng địa phương, khu vực, quốc gia (Nguyễn Trọng Hoài, Võ Tất Thắng và Lương Vinh Quốc Duy, 2005; Nguyễn Thị Hoa, 2009; Giang Thanh Long, 2009). Xoá đói giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ biện chứng với nhau. Tăng trưởng kinh tế tạo ra cơ sở, điều kiện vật chất để xoá đói giảm nghèo.

Ngược lại, xoá đói giảm nghèo là nhân tố đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế bền vững. Xoá đói giảm nghèo là yêu cầu cần thiết ổn định chính trị, xã hội. Trong những năm gần đây một số vấn đề về chính trị, xã hội ở một số vùng miền núi và những nơi khó khăn diễn biến phức tạp. Điều đó có nghĩa là xoá đói giảm nghèo ở nước ta không đơn thuần là một 9 chương trình kinh tế mà còn là chương trình mang ý nghĩa ổn định chính trị, xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân vào chế độ (Nguyễn Thị Hoa, 2009).

Nếu giải quyết không thành công vấn đề xoá đói giảm nghèo sẽ không thể thực hiện được mục tiêu công bằng xã hội và phát triển kinh tế mà Việt Nam đang phấn đấu.2 Nội dung của công tác xoá đói giảm nghèo Xoá đói giảm nghèo trên lý thuyết được thực hiện trên hai nội dung chính (Nguyễn Trọng Hoài, Võ Tất Thắng và Lương Vinh Quốc Duy, 2005; Nguyễn Thị Hoa, 2009): + Tạo điều kiện cho người nghèo có điều kiện phát triển sản xuất, gia tăng thu nhập cho người nghèo, vùng nghèo bằng các biện pháp: Thứ nhất, cấp tín dụng ưu đãi cho người nghèo giúp họ có vốn sản xuất, và từ đó có thể thoát nghèo.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ