phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn bao gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tín dụng đầu tƣ phát triển của nhà nƣớc. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 4 Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng hoạt động tín dụng đầu tƣ phát triển của nhà nƣớc tại chi nhánh Ngân hàng phát triển Tuyên Quang. Chƣơng 4: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động tín dụng đầu tƣ phát triển của nhà nƣớc tại chi nhánh Ngân hàng phát triển Tuyên Quang.
Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÍN DỤNG ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ NƢỚC 1. Cơ sở lý luận về tín dụng đầu tƣ phát triển của nhà nƣớc 1. Khái niệm tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước 1. Khái niệm về tín dụng Tín dụng là quan hệ vay mƣợn lẫn nhau giữa ngƣời cho vay và ngƣời vay có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định.
Hay nói cách khác, tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh quan hệ kinh tế trong đó mỗi tổ chức, cá nhân nhƣờng quyền sử dụng một khối lƣợng giá trị hay hiện vật cho một tổ chức hay cá nhân khác với những điều kiện ràng buộc nhất định về thời hạn hoàn trả, lãi suất, cách thức vay mƣợn và thu hồi. Tín dụng có các loại hình sau đây: - Tín dụng thương mại Tín dụng thƣơng mại là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế với nhau, đƣợc thực hiện dƣới hình thức mua bán chịu hàng hóa cho nhau. Tín dụng thƣơng mại ra đời sớm hơn các hình thức tín dụng khác và giữ vai trò là cơ sở để các hình thức tín dụng khác ra đời. Tín dụng thƣơng mại ra đời dựa trên nền tảng khách quan là quá trình luân chuyển vốn và chu kỳ sản xuất kinh doanh không có sự phù hợp và ăn khớp lẫn nhau không những giữa các doanh nghiệp khác ngành (nhƣ công nghiệp, thƣơng mại, xây Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 5 dựng) mà còn giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành.
Tín dụng thƣơng mại đều có lợi đối với cả hai phía và có lợi đối với tiến trình phát triển của nền kinh tế. Bởi vậy tín dụng thƣơng mại đã tồn tại và phát triển rất mạnh trong điều kiện của nền kinh tế hàng hóa phát triển cao nhƣ hiện nay. - Tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng với các doanh nghiệp và cá nhân đƣợc thực hiện dƣới hình thức ngân hàng đứng ra huy động vốn bằng tiền và cho vay (cấp tín dụng) đối các đối tƣợng nói trên. Nó là một nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ của ngân hàng đƣợc thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả và có lãi.
Đặc điểm của tín dụng ngân hàng là cho vay dƣới dạng tiền tệ. Nguồn vốn tín dụng mà ngân hàng cho vay ra đƣợc hình thành từ những khoản tiền tạm thời nhàn rỗi ngân hàng huy động đƣợc. Trong quan hệ với các doanh nghiệp và cá nhân, vừa đóng vai trò là ngƣời đi vay, vừa đóng vai trò ngƣời cho vay. Tín dụng ngân hàng ra đời phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của hệ thống ngân hàng.
Khác với tín dụng thƣơng mại, tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng chuyên nghiệp hoạt động của nó hết sức đa dạng và phong phú. - Tín dụng quốc tế Tín dụng quốc tế là quan hệ tín dụng giữa các chính phủ, giữa các tổ chức tài chính tiền tệ đƣợc thực hiện bằng nhiều phƣơng thức khác nhau nhằm trợ giúp lẫn nhau để phát triển kinh tế xã hội của một nƣớc. - Tín dụng nhà nước Tín dụng nhà nƣớc là quan hệ tín dụng giữa Nhà nƣớc (bao gồm Chính phủ trung ƣơng và chính quyền địa phƣơng.) với các đơn vị và cá nhân trong xã hội. Trong đó, chủ yếu là Nhà nƣớc đứng ra huy động vốn của các tổ chức và cá nhân bằng cách phát hành trái phiếu để sử dụng vì mục đích và lợi ích Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 chung của toàn xã hội.
Khác với các loại hình tín dụng khác, tín dụng nhà nƣớc không phục vụ các đối tƣợng kinh tế đơn thuần mà là các đối tƣợng vừa có tính chất kinh tế vừa có tính chất xã hội, để thực hiện vai trò điều tiết kinh tế vĩ mô của Nhà nƣớc trong từng thời kỳ nhất định, tín dụng nhà nƣớc không phải là khoản thu của Nhà nƣớc. Cũng giống nhƣ mọi loại hình tín dụng khác là thể hiện tính hoàn trả, có thời hạn và phải trả một khoản tiền về sử dụng vốn vay. Trong tín dụng nhà nƣớc, vốn tiền tệ huy động đƣợc dƣới hình thức công trái (trái phiếu Chính phủ) thuộc quyền sử dụng của Nhà nƣớc, chúng đƣợc chuyển thành nguồn tài chính bổ sung của Nhà nƣớc. Vốn ngân sách là nguồn để hoàn trả tiền vay và lãi vay.
Tín dụng nhà nƣớc gắn liền với hoạt động của kiến trúc thƣợng tầng chính trị và sự vận động của vốn ngân sách, biểu hiện một bộ phận của quan hệ tài chính Nhà nƣớc. Toàn bộ nguồn vốn huy động đƣợc dƣới hình thức tín dụng nhà nƣớc chủ yếu để cho vay ƣu đãi, ƣu tiên cho các dự án và công trình xây dựng hoặc cải tạo c ơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội hoặc đầu tƣ các dự án phát triển sản xuất kinh doanh. Khái niệm về đầu tư phát triển Đầu tƣ phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tƣ, là việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu để tạo việc làm, nâng cao đời sống của mọi ngƣời dân trong xã hội. Đó chính là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và các kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị, lắp đặt chúng trên nền bệ và bồi dƣỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thƣờng xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www. Khái niệm về tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước Tín dụng ĐTPT của Nhà nƣớc là việc Nhà nƣớc sử dụng vốn ngân sách hoặc từ các nguồn vốn do Nhà nƣớc huy động để cho vay các dự án theo kế hoạch của Nhà nƣớc nhƣ các chƣơng trình mục tiêu phục vụ lợi ích quốc gia, các dự án đầu tƣ quan trọng trong từng thời kỳ kế hoạch, nhƣng các dự án này phải đảm bảo có khả năng sinh lời, có khả năng hoàn trả đƣợc vốn vay cho Nhà nƣớc. Nhà nƣớc ƣu đãi cho các dự án này vay vốn với thời gian tƣơng đối dài thông thƣờng từ 10 năm đến 15 năm (có khi đến 40 năm), lãi suất cho vay thấp. Nhƣ vậy, tín dụng ĐTPT của Nhà nƣớc, về bản chất là quan hệ vay - trả giữa Nhà nƣớc với các chủ thể khác trong xã hội, gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tín dụng nhằm thực hiện các dự án ĐTPT.
Hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà nƣớc bao gồm hai mặt là Nhà nƣớc vay vốn của các chủ thể khác trong xã hội để thực hiện các dự án ĐTPT thuộc nhiệm vụ của Nhà nƣớc nhƣng chƣa có đủ vốn và Nhà nƣớc cho các chủ thể trong xã hội vay vốn để thực hiện các dự án ĐTPT không thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách Nhà nƣớc. Trên thế giới, do nhu cầu chi của NSNN để duy trì hoạt động bình thƣờng của bộ máy Nhà nƣớc, đảm bảo quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế- xã hội không ngừng tăng trong khi nguồn thu NSNN lại bị hạn chế và tăng chậm, nên hầu hết các quốc gia đều xảy ra tình trạng thâm hụt NSNN, cho dù quốc gia đó là một nƣớc giàu có nền kinh tế phát triển hay là một nƣớc nghèo chậm phát triển. Đối với các nƣớc chậm phát triển, thâm hụt NSNN càng trầm trọng và phổ biến hơn bởi ngân sách của các nƣớc này luôn trong tình trạng thu không đủ chi do nền kinh tế kém phát triển, trong khi cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế lại nhỏ bé, lạc hậu nên cần phải có một lƣợng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 8 vốn đầu tƣ phát triển rất lớn. Để giải quyết nhu cầu về vốn còn thiếu hụt cho ĐTPT, hầu hết các quốc gia đều lựa chọn con đƣờng đi vay nhƣ là một cứu cánh cho NSNN.
Điều này giải thích vì sao Nhà nƣớc phải đi vay để ĐTPT. Mặt khác, do nguồn lực của Nhà nƣớc còn hạn chế trong khi nhu cầu chi ĐTPT lại rất lớn, NSNN không thể trang trải hết cho toàn bộ các dự án ĐTPT, nên Nhà nƣớc buộc phải lựa chọn các dự án ĐTPT không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp. Nhà nƣớc chỉ đầu tƣ thông qua kênh tín dụng ĐTPT, trong đó chủ đầu tƣ dự án đƣợc vay vốn của Nhà nƣớc để đầu tƣ và phải sử dụng các nguồn thu từ dự án để hoàn trả toàn bộ số nợ đã vay Nhà nƣớc. Nhƣ vậy, có thể thấy rằng tín dụng ĐTPT của Nhà nƣớc ra đời bắt nguồn trƣớc hết từ yêu cầu về giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu ĐTPT ngày càng lớn của nền kinh tế quốc dân với sự giới hạn của nguồn lực tài chính công, nhất là của NSNN.
Ở Việt Nam TDĐT của Nhà nƣớc đã đƣợc tập trung cho những chƣơng trình, dự án thuộc các ngành, lĩnh vực trọng điểm của đất nƣớc nhƣ: nhà máy thủy điện, nhiệt điện, lọc dầu, các nhà máy đóng tàu biển, xi măng, thép, hoá chất, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội. Hoạt động cho vay vốn TDĐT của Nhà nƣớc đã có những đóng góp quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế. Thể hiện trên những mặt chủ yếu là: Góp phần thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nƣớc theo hƣớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; Hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội của các vùng/miền, thúc đẩy phát triển một số lĩnh vực, chƣơng trình, dự án, sản phẩm trọng điểm của nền kinh tế; Góp phần thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo; Phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn; Góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu tƣ của xã hội; Khai thác các nguồn vốn cho đầu tƣ, thúc đẩy sự phát triển của thị trƣờng tài chính.