CHƯƠNG I TỔNG QUAN 1. Tình hình và tầm quan trọng của tập quán nuôi con Thực hành nuôi con đúng có vai trò quyết định tới sự tăng trưởng, phát triển về thể chất và trí tuệ của trẻ sau này. Cụ thể hơn là khi nuôi con đúng cách sẽ giúp trẻ đề phòng được bệnh SDD, một số bệnh liên quan tới dinh dưỡng và bệnh nhiễm trùng.1 Nuôi con bằng sữa mẹ 1.1 Tình hình nuôi con bằng sữa mẹ tại Việt Nam và trên thê giới Tại Việt Nam hiện nay, tỷ lệ trẻ được bú mẹ hoàn toàn (BMHT) nhìn chung chưa cao kể cả ờ thành phố và vùng nông thôn, miền núi. Theo nghiên cứu của Lê Thị Hợp và Phạm Thuý Hoà ở nông thôn Việt Nam thì tỷ lệ trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu là 22,6% [17], của Cao Thu Hương và cộng sự 1992 tại Thanh Hoá là 12,8% [24], Nguyễn Kim Hưng ở thành phố Hồ Chí Minh năm 1999 chỉ có 2,1% [31].
Tỷ lệ cho con bú mẹ sớm sau sinh hiện nay vẫn còn thấp và khác nhau nhiều theo các vùng. Theo số liệu của chương trình Sữa mẹ Bộ Y tế 1998- 1999 thì thời gian trung bình bà mẹ cho con bú sau sinh là 9,9 giờ, vùng đồng bằng sông Cửu Long là 17,3 giờ [5]. Theo nghiên cứu của Quan Lệ Nga, Cao Thu Hương năm 1993 ở nhiều vùng sinh thái khác nhau trong cả nước cho thấy tỷ lệ bú sớm sau sinh rất thấp: 8,4% [39]. Một nghiên cứu ở ngoại thành Hà Nội năm 1996 cho thấy có 28,4% bà mẹ cho con bú sớm ngay sau đẻ [45].
Song theo các nghiên cứu gần đây của nhiều tác giả, tình hình trên đã được cải thiện rõ rệt [11, 14, 50, 51]. 5 Theo số liệu của DHS (1986-1989) tại 24 nước đang phát triển cho thấy một tỷ lệ cao trẻ 0- 4 tháng được nuôi bằng sữa mẹ. Tỷ lệ này thay đổi từ 71% ở Đông Bắc Braxin đến 100% ở Burundi, Gana, Togo, Uganda. Tuy nhiên tập tính này thường khác nhau nhiều giữa 24 nước [74].
Theo một số nghiên cứu thì tình hình nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) thay đổi nhiều theo thời gian và khác nhau ở nhiều nước trên thế giới, ở vùng thành thị của Malaysia tỷ lệ NCBSM giảm nhanh từ 80% (1950-1969) xuống còn 69% (1989-1990) và hiên nay trong khoảng 50-60%. ở Trung Quốc, từ 63% xuống còn 22% và ở Ấn Độ từ 70% xuống 40%. Singapore, tỷ lê NCBSM là 85-90% vào những năm 50, giảm đi còn 36% vào năm 1989 và 30% năm 1997 [61]. Thời gian trung bình NCBSM và tỷ lệ các bà mẹ cho con bú ở Philippin giảm nhiều từ năm 1973 cho đến nay, đặc biệt ở vùng thành thị, ở nhóm có giáo dục tốt và có thu nhập cao hơn [79].
ở Mỹ tỷ lê trẻ sơ sinh tại bệnh viện được nuôi bằng sữa mẹ giảm từ 59,7% vào năm 1984 xuống 52,2% vào năm 1989 [65]. Trái lại, nghiên cứu ở 25 nước châu Phi, Á và Mỹ La Tinh cho thấy không có sự giảm sút NCBSM và tỷ lệ trẻ nhỏ được nuôi bằng sữa mẹ tăng lên hoặc ổn định [64]. Về lứa tuổi cai sữa, nhìn chung hiện nay đang có xu hướng là cai sữa sớm. Theo nghiên cứu của Hoàng Đức Thịnh tại Khánh Hoà thì đa số trẻ được cai sữa vào giai đoạn khi trẻ 12-18 tháng tuổi (65,8%) [31].
Vùng thành phố tỷ lệ cai sữa sau 18 tháng là thấp nhất (15,3%), rồi đến vùng nông thôn (27,5%), ven biển (24,9%) và miền núi (39,8%) [31].2 Những hiểu biết cơ bản về NCBSM Theo khuyến cáo hiên nay thì ngay sau khi sinh, đứa trẻ cần được cho bú mẹ càng sớm càng tốt thậm chí ngay trong nửa giờ đầu sau sinh [33, 70]. Trong vòng 4-6 tháng tuổi đầu, trẻ cần được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ mà không cần thêm thức nào khác [63, 70]. Trong giai đoạn này, mọi thức ăn thêm khác đều có thể mang đến cho trẻ một số nguy cơ về sức khoẻ như nhiễm trùng tiêu hoá, thiếu dinh dưỡng do pha chế không đúng quy chuẩn về lượng, chất [63, 70]. 6 Với trẻ dưới 12 tháng tuổi, sữa mẹ là thức ăn quý giá nhất không một thức ăn nhân tạo nào có thể so sánh được [27, 43].
Trẻ cần được bú mẹ thường xuyên, nên kéo dài từ 18 tháng đến 24 tháng tuổi [1, 33, 43, 63, 70] và không nên quá 24 tháng.3 Vai trò của việc nuôi con bằng sữa mẹ Nuôi con bằng sữa mẹ đảm bảo cho sự phát triển thể chất và tinh thần trẻ, giảm được các nguy cơ mắc bệnh cho trẻ. Morrow và cộng sự (1988) cho thấy có sự liên quan chật chẽ giữa sự hiểu biết của trẻ trong 2 tháng đầu và thấy rằng có một sự khác nhau có ý nghĩa giữa những trẻ được bú mẹ với những trẻ ăn nhân tạo [72]. Theo tài liệu của WHO, những trẻ từ 0 - 2 tháng tuổi mà không được bú mẹ thì tỷ lệ bị tiêu chảy cao hơn 2 lần và nguy cơ trẻ tử vong do những ảnh hưởng của nó cũng tăng 25 lần so với những trẻ được bú mẹ.lambert và Barford nghiên cứu trên các trẻ em nghèo của Papua New Guinea chỉ rõ tỷ lệ SDD của những trẻ nuôi nhân tạo cao gấp 2,5 lần so với trẻ được nuôi bằng sữa mẹ [67]. Tại Việt Nam, nghiên cứu của Đào Ngọc Diễn ở trẻ em nội ngoại thành cũng chỉ rõ tỷ lệ SDD và mắc các bệnh nhiễm trùng hô hấp, tiêu chảy cao hơn một cách có ý nghĩa ở nhóm trẻ mẹ bị thiếu sữa [8].
Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất và hoàn chỉnh nhất cho trẻ dưới 1 tuổi. Nuôi con bằng sữa mẹ có lác dụng làm giảm nguy cơ ±iếu vi chất dinh dưỡng từ đó phòng được một sô' bệnh liên quan tới vi chất dinh dưỡng như bệnh khô mắt, quáng gà do thiếu vitamin A, thiếu máu do thiếu sắt, chậm phát triển trí tuệ do thiếu lốt. “ Nuôi con bằng sữa mẹ là sự đầu tư tốt nhất” [53]. Hiên nay hàng năm ở nước ta có khoảng 1,5 triệu trẻ em ra đời, bú một lượng sữa mẹ giá trị là 2.737 tỉ 500 triệu đồng, gần bằng ngân sách nhà nước cấp cho toàn ngành y tế ưong 1 năm (2.800 tỉ đồng/năml998) [53].
Trẻ bú sữa non sau sinh có tác dụng giảm nguy cơ SDD [50]. Theo khuyến nghị của Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) và WHO thì không cần phải cho trẻ sơ sinh ăn một thức ăn nào khác trước khi bú mẹ lẩn đầu.2 Nuôi con ăn bổ sung 1.1 Tình hình nuôi con án bổ sung Ăn bổ sung (ABS) là một thực hành nuôi dưỡng cung cấp cho trẻ thức ăn ngoài sữa mẹ. Theo khuyến cáo thì thời gian trẻ bắt đầu ABS nên từ trước tháng thứ năm hoặc thứ sáu [33]. Tuy nhiên, hiện nay các bà mẹ thường có xu hướng cho con ăn bổ sung sớm.
Theo nghiên cứu của Trần Thị Ngọc Hà tại Hà Tĩnh thì tỷ lệ ăn bổ sung sớm là 37,6% [14], của Cao Thị Hậu ở Ninh Bình là 97,9% [16], của Nguyễn Ngọc Trâm, Phạm Mai Chi và cộng sự ờ các tỉnh phía Bắc là 72% [54], Hoàng Đức Thịnh, 1996 ở tỉnh Khánh Hoà là 53% [31]. Theo sô' liệu điều ưa của nhiều nước trên thế giới cho thấy thời gian trung bình NCBSM dài nhất là ờ châu Phi và Đông Nam Á, ngắn nhất ở Châu Âu và Châu Mỹ [74], Ở các nước đang phát triển có một tỷ lệ lớn cộng đồng dân cư đang sống ưong tình ưạng đô thị hoá, cấu trúc gia đình ưuyền thống đang bị phá vỡ và chị em phụ nữ tham gia lực lượng lao động ngày càng đông. Điều này dẫn tới khuynh hướng chung là cho trẻ bú chai cùng với ăn bổ sung sớm đang ngày càng tăng lên. Theo sô' liệu báo cáo ở Lagos (Nigeria) 87% phụ nữ ở thành thị bắt đầu cho con ăn bổ sung vào cuối tháng thứ nhất và chỉ có 2% ưẻ được bú mẹ hoàn toàn đến 3 tháng [74].
Ở Tây Thái Bình Dương cho ăn bổ sung sớm vẫn là tập quán khá phổ biến như ở French Polynesia (1988), mặc dù có 61% bà mẹ cho con bú ngay sau sinh nhưng chỉ có 35% cho con bú đến 3 tháng với 22% cho bú đầy đủ [74]. Về khẩu phần ăn thực tê' của ưẻ em Việt Nam cho thấy khẩu phần ăn chủ yếu là gạo, rau, kém cân đối và lượng protit thấp [35, 40]. Nghiên cứu của Phạm Thuý Hoà và cộng sự về khẩu phần ăn thực tế của trẻ dưới 36 tháng tuổi ở nội thành Hà Nội và một sô' vùng nông thôn miền Bắc cho thấy khẩu phần ăn ưẻ em nông thôn (cả đang bú và thôi bú) còn thiếu nhiều về lượng so với nhu cầu đề nghị của VDD, cả về protein, vitaminA, Bl, c, sắt ưong khẩu phần đều khổng đạt [20]. Theo Hồ Quang Trung thì khẩu phần ăn ở ưẻ 18-36 tháng 8 tuổi ở cả nhóm giầu và nghèo tại xã Văn Khúc, Phú Thọ đều thiếu cả về số lượng và mất cân đối [51].
Một số nghiên cứu như của Nguyễn Đình Quang, Phạm Duy Tường tại miền núi phía Bác [44], Cao Thị Hâu ờ Ninh Bình 1991 [16] đều cho thấy chất lượng bữa ăn bổ sung của trẻ đơn điệu, hiếm có protit động vật, dẩu mỡ, rau xanh, về tình hình bữa ăn hàng ngày của trẻ có đủ 3- 4 nhóm thực phẩm, theo Nguyễn Đình Quang năm 1996 ở Hà Nội là 78,5% đối với ưẻ em ngoại thành và 80% đối với trẻ em nội thành [45], của Trịnh Thị Thu Thuỷ tại Sóc Sơn, Hà Nội, 1997 là 77,1% ở xã có chương trình can thiêp, cao hơn đáng kể so với 61,7% ở xã không có chương ưình [50].2 Hiểu biết cơ bản vể nuôi con ăn bổ sung Thời gian bắt đầu ABS theo khuyên cáo chung là trong tháng tuổi thứ năm hoặc thứ sáu [33, 63, 70, 81]. ở khía cạnh bản chất về dinh dưỡng đã có sự dần dần chuyển giao vai trò cung cấp năng lượng và chất dinh dưỡng từ sữa mẹ tới vai trò của các thực phẩm ưong bữa ăn gia đình để kết thúc thời kỳ bú mẹ [70, 84]. ■ Các thực phẩm bổ sung được chia làm 4 nhóm chính [1, 33, 43]. + Nhóm thực phẩm cơ bản : gạo, ngô, mỳ, ngũ cốc khác.
+ Nhóm thực phẩm giầu protit: - Đắt tiền như: thịt, bling, cá lớn, xương. - Rẻ tiền như: Tôm nhỏ, tép, ốc, cá nhỏ, hến, cua đồng, trai, đỗ. + Nhóm thực phẩm cung cấp năng lượng: dầu, mỡ, lạc, vừng. + Nhóm cung cấp vitamin, khoáng: các loại rau xanh, quả.
Đặc điểm của bữa ăn ưẻ em là cần sự chế biến phù hợp cho từng tháng tuổi.