CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ PHÉP THẾ 1. Quan điểm của các học giả nước ngoài về phép thế J. Frith (1951) là người đầu tiên đưa ra vấn đề nghiên cứu giao tiếp ở cấp độ trên câu. Tuy nhiên, với sự ảnh hưởng của các nhà ngữ học nổi tiếng đương thời như Bloomfield và N.
Chomsky nên vấn đề này đã bị gác tạm sang một bên trong khoảng thời gian 14 năm. H Weinrich đã xới lại vấn đề khi phát biểu: “Bình thường chúng ta nói không phải bằng các từ rời rạc mà bằng các câu và văn bản, và lời nói của chúng ta xây dựng trên tình huống”. Ông cho rằng cấu trúc luận ngôn ngữ học đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, và bây giờ đã đến giai đoạn phải chuyển sang một hướng nghiên cứu khác mới mẻ hơn. Quirk cùng nhóm tác giả (1972) đã bắt đầu nghiên cứu về ngữ pháp văn bản và có những nhận xét về phép thế như một phương tiện hữu hiệu của việc liên kết: “Phép thế là một phương tiện để viết ngắn lại và để tránh lặp lại.
Ở phạm vi trên câu, phép thế dường như không bắt buộc và phục vụ cho mục đích tu từ. Trong phạm vi câu, việc sử dụng phép thế đôi khi mang tính bắt buộc. Hầu hết các từ thay thế sử dụng ở phạm vi câu đều có thể sử dụng liên câu. Halliday và Hasan (1976) cũng đưa ra những nhận xét tương đồng về phép thế trong văn bản: Phép thế là một quan hệ ở cấp độ văn bản trên bình diện từ vựng - ngữ pháp.
Một từ thay thế có thể xem như là một phương tiện thế chỗ nhằm tránh lặp lại một yếu tố nào đó. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Moskalskaja (1981) cũng công bố chuyên luận mang tên Ngữ pháp văn bản mà Trần Ngọc Thêm đã dịch sang tiếng Việt năm, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1996. Tiếp đến phải kể đến một công trình liên quan đến nghiên cứu ngữ pháp ở cấp độ trên câu là tác phẩm Phân tích diễn ngôn của Gillian Brown – George Yule (1983) mà Trần Thuân đã dịch sang tiếng Việt nưm 2002, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
Sau đó là ý kiến của Frank (1993): Phép thế là trường hợp mà trong đó một từ được sử dụng để thay cho toàn bộ một cấu trúc. Gần hơn nữa là ý kiến của Downing & Locke (1995): Phép thế được sử dụng để tránh nhắc lại thông tin mà người nghe đã biết. Khác với tỉnh lược để lại một khoảng trống trong cấu trúc, phép thế lấp đầy khoảng trống đấy bằng một từ chuyên thay thế. Quan điểm, kết quả nghiên cứu về phép thế trong giới Việt ngữ học Những nghiên cứu về ngữ pháp văn bản có thể nói đều hướng đến mục đích tối thượng là chỉ ra cho được những yếu tố/giá trị liên kết để làm nên văn bản ấy như một chỉnh thể thông tin.
Ở Việt Nam từ trước đến nay nổi bật lên hai chuyên luận của Trần Ngọc Thêm (Hệ thống liên kết văn bản – 1985, 1999) và Diệp Quang Ban (Giao tiếp – Văn bản – Mạch lạc – Liên kết – Đoạn văn). Bên cạnh đó có thể kể thêm hai tác phẩm Hệ thống liên kết lời nói tiếng Việt của Nguyễn Thị Việt Thanh và Phép tỉnh lược và ngữ trực thuộc tỉnh lược trong văn bản tiếng Việt của Phạm Văn Tình. Gần đây hơn nữa là bài nghiên cứu Cơ sở nối kết lời tiếng Việt của Hoàng Cao Cương (Tạp chí Ngôn ngữ, số 8+9/2007). Tuy nhiên, hai tác phẩm như chúng tôi đã kể đến trước tiên vẫn là những tác phẩm có phạm vi nghiên cứu bao quát hơn cả, tương đối toàn diện và dầy dặn, phù hợp với những người muốn tìm hiểu về liên kết văn bản từ cấp độ đại cương cho đến những cấp độ cao hơn.
Điểm khác biệt cơ bản giữa Trần Ngọc Thêm và Diệp Quang Ban là trong khi Trần Ngọc Thêm chia liên kết văn bản thành hai loại liên kết hình thức và liên kết nội 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dung (với nhiều tiểu loại liên kết khác nhau) thì Diệp Quang Ban cho rằng còn có một khái niệm bao trùm lên liên kết là “mạch lạc”. Chính mạch lạc với các cấp độ và tiểu loại khác nhau của nó đã làm nên sự liên kết chặt chẽ và nhất quán trong một văn bản. Cùng với đó, không thể không nói đến sự tương đồng trong quan điểm nghiên cứu của Trần Ngọc Thêm và Diệp Quang Ban khi cùng thống nhất về vai trò, giá trị của một số phép liên kết quan trọng, đóng vai trò không thể thay thế trong việc liên kết, kết nối văn bản ở các cấp độ khác nhau, góp phần vào sự thành công của văn bản, góp phần làm nên giá trị của văn bản đó. Những phép liên kết điển hình được hai tác giả thống nhất từ khái niệm cho đến nội hàm hoặc một phần nội hàm bao gồm: phép thế, phép tỉnh lược, phép nối và phép lặp.
Như vậy, phép thế là phép liên kết cùng được hai tác giả quan tâm và dành cho nó một vị trí thích đáng trong công trình nghiên cứu của mình. Tuy nhiên, phép thế trong quan niệm của Diệp Quang Ban chỉ đơn thuần là phép thế đại từ. Ông viết: “phép thế là việc sử dụng ở câu này các đại từ thay thế như đó, đây, kia, …thế cho danh từ (cụm danh từ), vậy, thế, đó…thế cho động từ (cụm động từ), tính từ (cụm tính từ), mệnh đề (cấu trúc chủ vị, hay cú) tương ứng có mặt trong câu khác; trên cơ sở đó hai câu đang xét liên kết được với nhau. Tất nhiên, các đại từ thay thế là những từ có nghĩa không cụ thể, và nghĩa cụ thể của chúng có thể tìm được ở những từ, tổ hợp từ mà chúng thay thế”.
Ví dụ: Đoàn du lịch sẽ đến Hội An vào trưa mai. Đoàn sẽ ỏ lại đấy một ngày đêm. - Nước ta là một nước văn hiến. Ai cũng bảo thế Trong khi đó, Trần Ngọc Thêm lại phân biệt rất rõ hai loại thế là thế đại từ và thế đồng nghĩa.
Thế đại từ được Trần Ngọc Thêm định nghĩa: “là việc sử dụng trong 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com câu kết yếu tố đại từ tính (đại từ, tổ hợp tử có tính chất đại từ) thay thế cho yếu tố tương ứng với nó ở câu chủ, để tạo liên kết. Có thể coi đây là cách quy chiếu bằng yếu tố đại từ tính (khác với quy chiếu của phép thế đồng nghĩa ở từ dùng để thay thế)”. Xét theo vị trí trước sau của yếu tố được thay thế và yếu tố thay thế, thế đại từ được chia làm hai loại là thế đại từ hồi chiếu và thế đại từ khứ chiếu. Ví dụ: - Thế đại từ khứ chiếu: Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống.
Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. - Thế đại từ hồi chiếu: Tri thức là gì? Tri thức là hiểu biết. Phép thế đồng nghĩa được Trần Ngọc Thêm định nghĩa “là việc sử dụng trong câu kết yếu tố (từ, cụm từ) có cùng nghĩa với yếu tố tương ứng ở câu chủ, để tạo liên kết giữa hai câu. Tên gọi thế đồng nghĩa có tính chất quy ước, hiểu đồng nghĩa trong nghĩa rộng, không đơn giản là chỉ dùng từ đồng nghĩa.
Thế đồng nghĩa được chia làm bốn loại là đồng nghĩa từ điển, đồng nghĩa phủ định, đồng nghĩa miêu tả và đồng nghĩa lâm thời. - Thế đồng nghĩa từ điển: Phụ nữ lại càng cần phải học. Đây là lúc chị em phải cố gắng để kịp nam giới. - Thế đồng nghĩa phủ định: Nó phải đi hết chỗ này chỗ nọ, để kiếm cái nhét vào dạ dày.
- Thế đồng nghĩa miêu tả: Cai lệ1 tát vào mặt chị một cái đánh bốp (…) Chị Dậu2, nghiến hai hàm răng (…) túm lấy cổ hắn, ấn dúi ra cửa. Sức lẻo khẻo của anh chàng nghiện1 chạy không kịp với sức xô đẩy của người đàn bà lực điền2, hắn ngã chỏng quèo trên mặt đất. 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Thế đồng nghĩa lâm thời: Một số phường săn đến thăm dò để giăng bẫy bắt con cọp xám. Nhưng con ác thú tinh lắm, đặt mồi to và ngon đến đâu cũng không lừa nổi nó.
Diệp Quang Ban là người công bố công trình nghiên cứu sau thực ra cũng có ý thức rất rõ về sự khác biệt này khi ông viết những dòng chú thích trong tác phẩm Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo của văn bản [NXB Giáo dục, HÀ Nội, 2009, tr. 378]: “Cách hạn chế phương thức thế trong khuôn khổ các đại từ thay thế, không tính đến các yếu tố từ vựng đồng nghĩa , gần nghĩa tương ứng là nét khác biệt của hệ thống liên kết này so với hệ thống liên kết của Trần Ngọc Thêm (1985 và 1999). Các từ ngữ đồng nghĩa, gần nghĩa có tác dụng liên kết được xếp vào phương thức liên kết từ vựng, do bản tính từ vựng của chúng, không cần tính đến vị trí cú pháp”. Như vậy, phép thế đồng nghĩa trong quan điểm của Trần Ngọc Thêm chính là phép liên kết từ vựng theo quan điểm của Diệp Quang Ban.
Nói cách khác, Diệp Quang Ban không cho rằng tồn tại phép thế đồng nghĩa bởi ông là người theo quan điểm ngữ pháp cực đoan. Với Diệp Quang Ban, phép thế chỉ có thể hiểu là thế đại từ mà thôi. Phép thế như một phương thức liên kết của văn bản nghệ thuật Ngữ pháp học truyền thống coi câu là đơn vị cơ bản, có ý nghĩa hoàn chỉnh, có cấu tạo ngữ pháp, có tính chất độc lập, có chức năng thông báo và tạo lập văn bản. Nói cách khác, giới ngữ pháp tập trung vào nghiên cứu câu như một đơn vị mang đặc tính tột cùng trong các thang bậc đơn vị của ngành học.
Tuy nhiên, dần dần người ta đã nhận thấy, việc nghiên cứu ngữ pháp học theo cách chỉ tập trung vào đơn vị câu sẽ không thể giải quyết được nhiều vấn đề nảy sinh mà ngôn ngữ học hiện đại đã chỉ rõ. Trong một công trình nghiên cứu của J. Firth năm 1951,cho rằng nhiệm vụ trọng tâm của ngôn ngữ học miêu tả là phải nêu bật được ý nghĩa lời nói và nhà ngôn 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngữ học phải quan tâm đến quá trình giao tiếp trong ngữ cảnh vì ngôn ngữ chỉ có nghĩa khi đặt trong một ngữ cảnh giao tiếp cụ thể. Thế nhưng Firth lại không phải là người đầu tiên nghiên cứu cấp độ trên câu.
Và lúc đó do dưới sự ảnh hưởng của các nhà ngôn ngữ học như L. Bloomfield và tiếp theo là N. Chomsky vấn đề này dường như bị bỏ sang một bên.