CHƯƠNG 1 HIỆU QUẢ CỦA VIỆC TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG TRONG SẢN XUÂT TẠI VIỆT NAM 1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG Tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường đang là vấn đề thời sự có tính toàn cầu. Ớ Việt Nam, các khảo sát thực tế cho thấy, tính hiệu quả của việc khai thác và sử dụng năng lượng hiện đang còn ỏ mức khá thấp. Ví dụ, suất tiêu hao năng lượng (kgOE/USD) trong lãnh vực công nghiệp của Việt Nam cao hơn từ 2,4 đến 3,6 lần so với các nước trong khu vực. Tương tự, trong phạm vi các tòa nhà, chỉ số tiêu thụ điện tính trên 1 m2 sàn cao hơn từ 30%-50% so với các công trình cùng loại ở các nước châu Ă có áp dụng các biện pháp tiết kiệm năng lượng.
Việc khai thác năng lượng không hiệu quả không chỉ gây ra các tổn thất về mặt kinh tế, mà còn góp phần hủy hoại môi trường. Thật vậy, theo các số liệu thống kê, ở các nước châu Au, để sản xuất ra 1 kWh điện ngươi ta đã thải vào môi trường 0,6 kg CO2, thành phần chủ yếu gây ra hiệu ứng nhà kính làm gia tăng nhiệt độ của bầu khí quyển. Ớ Việt Nam hàm lượng COo thai ra tính trên 1 kWh điện sản xuất được chắc chắn sẽ cao hơn.2 TRIỂN KHAI KIỂM TOÁN NÃNG LƯỢNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP Tuy vấn đề tiết kiệm và sử dụng hiệu quả năng lượng là vấn đề bức thiết và có tính cách sống còn đốì với các doanh nghiệp Việt Nam, rất ít doanh nghiệp nhận thức được điều này hay không biết phải thực hiện như thế nào. Nhận thức dược điều này, TP.HCM đã đi dầu cả nước về những sáng kiến trong việc hỗ trự và tư vân cho các doanh nghiệp.
Bắt đầu từ một đề tài NCI£H nhằm triển khai cong tác kiểm toán năng lượng và thực hiện các biện pháp tiết kiệm năng lượng tại 10 doanh nghiệp trên địa bàn Thành Phô, một dự án nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp tiết kiệm năng lượng đang được triển khai. Đến nay đã có trên 80 doanh nghiệp được hỗ trợ trong công tác kiểm toán năng lượng nhằm tìm ra các giải pháp tiết kiệm năng lượng. Dựa trên kết quả kiểm toán năng lượng tại trên 80 doanh nghiệp và kết quả thực hiện một số biện pháp tại 15 doanh nghiệp - 1 - trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh, các biện pháp TKNL có thể được chia ra làm 3 nhóm như sau: Các biện pháp yêu cầu đầu tư ngắn hạn (không đòi hói chi phí đầu tư hoặc chi phí rất thấp với thời gian hoàn vốn < 3 tháng): các biện pháp này bao gồm việc thay đổi cách quản lý và điều hành sản xuất; thực hiện biện pháp cân đong đo đếm mức tiêu hao năng lượng, nguyên liệu, thành phẩm, phế phẩm.; giảm bớt đèn chiếu sáng dư hay không cần thiết; bảo ôn các dường ống hơi nóng và lạnh.
Nếu thực hiện các biện pháp này không thôi, các doanh nghiệp Việt Nam đã có thể tiết kiệm đến 15% mức tiêu thụ năng lượng hiện nay. Các biện pháp yêu cầu đầu tư trung hạn (đòi hỏi chi phí đầu tư với thời gian hoàn vốn từ 3 tháng đến 1 năm): các biện pháp này bao gồm việc sắp xếp tổ chức lại dây chuyền cho hợp lý; lắp đặt hệ thống thu hồi nước ngưng để câp nước cho lò hơi; thay bóng đèn huỳnh quang Ộ32 bằng bóng Ộ26 hay bóng đèn Compact; tự động hóa điều khiển các hệ thống lạnh nhằm giảm tiêu hao năng lượng; sử dụng biến tần cho các động cơ có nhu cầu thay đổi tải liên tục. Nếu thực hiện các biện pháp này, các doanh nghiệp Việt Nam có thể tiết kiệm từ 15% đến 30% mức liêu thụ năng lượng hiện nay. Các biện pháp yêu cầu đầu tư dài hạn (đòi hỏi chi phí đầu tư vơi thơi gian hoàn vốn trên 1 năm): các biện pháp này bao gồm việc thay động cơ quá cũ và dư công suất bằng động cơ hiệu suất cao có công suất phù hợp hơn; sử dụng năng lượng mặt trơi nhằm cung cấp nhu cầu nước nóng cho doanh nghệp; sử dụng các bồn tích trừ lạnh để giảm tải điện tiêu thụ giơ cao điểm cho các hệ thông lạnh; thay đổi thiết bị và máy móc đã quá cũ và lạc hậu.
Nếu thực hiện các biện pháp này, các doanh nghiệp Việt Nam có thể tiết kiệm từ 30% đến 45% mức tiêu thụ năng lượng hiện nay. Các cơ hội tiết kiệm năng lượng tại các doanh nghiệp nói trên nằm trong 2 khâu chính: khâu quản lý và khâu kỹ thuật. Khản quản lỷ Trong khâu quản lý, hầu hết các doanh nghiệp nói trên đều không quan lâm lắm đến vấn đề quản lý năng lượng trước khi nhóm kiểm toán đến. Các doanh nghiệp đều không có người đặc trách theo dõi việc tiêu thụ và tiêu hao năng lượng hàng tháng, chưa đề ra được định mức sử dụng -2- năng lưựng và suất tiêu hao năng lượng để từ đó có những quy định, quy phạm cụ thể để công nhân làm theo.
Một vấn đề phổ biến khác tại các doanh nghiệp là không có hệ thống cân đong, đo đếm nguyên liệu cũng như nhiên liệu tại các khâu hay công đoạn sản xuất. Điều này dẫn đến việc không thể bắt công nhân tiết kiệm năng lượng vì không thể dựa trên một chuẩn nào cả. Nghiêm trọng hơn, diều này dần đến tình trạng mất cân đối giữa các công đoạn mà không thể phát hiện lừ nhiều năm tại một số doanh nghiệp. Tại các doanh nghiệp, tất cả các hoá đơn năng lượng đều do Phòng Kê Toán - Tài Vụ quân lý.
Điều này dẫn đến thực trạng là Bộ phạn kỹ thuật không có số liệu nào để theo dõi việc tiêu thụ năng lượng hàng tháng nhằm phát hiện kịp thời những đột biến trong hoá đơn năng lượng để có biện pháp khắc phục sớm. Tại một số' doanh nghiệp, Ban Giám Đốc chưa thật sự coi trọng vấn đề quan lý và tiết kiệm năng lượng. Đây là yếu tố mang tính quyết định đến sự thành bại của chương trình tiết kiệm năng lượng của doanh nghiệp. Khâu kỹ thuật Trong khâu kỹ thuật, các cơ hội tiết kiệm năng lượng (TKNL) được phát hiện và dề xuất trong tất cả các hệ thông cung cấp năng lượng chính cho doanh nghiệp, bao gồm hệ thống nhiệt - lạnh, hệ thống điện, hệ thống nước.
Điều dáng lưu ý trong hệ thống nhiệt - lạnh của các doanh nghiệp là vấn dề bao ôn (bọc cách nhiệt). Hệ thông bảo ôn của các doanh nghiệp phần lơn là không có (như trong trương hợp Công Ty Dệt Sài Gòn, các dầu lò của máy ép trong các nhà máy nhựa) hoặc lớp bảo ôn đã quá cũ và hư (như trong trường hợp Công Ty VISSAN và Khách sạn PALACE). Đây là các cơ hội TKNL nên được thực hiện ngay do chí phí cải tạo tháp nhưng hiệu quả kinh tế cao. Hơn thế nữa, đó là vấn dề an toàn lao động và vệ sinh môi trương của doanh nghiệp.
Vân đề phổ biến khác trong hệ thống nhiệt là không thu hồi nươc ngưng sau khi hơi nươc được sử dụng. Điều này dẫn đến. sự lãng phí rất lớn không những về mặt năng lượng (vì nươc ngưng có nhiệt độ khoảng 75 - 90°C khi thu hồi) mà cơn lãng phí nguồn nước câp rất quý cho lò hơi (vì nước ngưng là nước tinh khiết không cần qua xử lý khi đưa vào lò hơi). Việc lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng và sửa chữa các bẫy hơi (cốc ngưng) không đúng quy cách cũng là vấn đề khá phổ biến trong hệ thống nhiệt của các doanh nghiệp.
- 3- Trong hệ thống điện, tình trạng sử dụng động cơ non tải là rất phổ biến. Điều này không chỉ làm các động cơ hoạt động với hiệu suất thấp mà còn đưa đến tình trạng hệ sô' công suất cos(p của doanh nghiệp rấp thấp nếu không có hệ thống tu bù. Thêm vào đó, chế độ bảo dưỡng các động cơ cũng rất kém. Hệ thống chiếu sáng cũng là vấn đề lãng phí khá phổ biến.
Việc sử dụng đèn huỳnh quang chủ yếu cho chiếu sáng với việc thiết kế, lắp đặt không đúng quy cách dẫn đến lãng phí rất lớn. Hơn nữa, chiếu sáng tự nhiên không dược lưu tâm từ khâu thiết kế ban đầu đến việc sử dụng hiện tại dẫn đến việc phải sử dụng hệ thông đèn hầu như mọi lúc, mọi nơi. Vấn đề sử dụng nước cũng rất lãng phí tại các doanh nghiệp. Cho dù doanh nghiệp sử dụng nước thủy cục hay nước giếng tự cung cấp, các doanh nghiệp hầu như đều không xếp nước vào dạng năng lượng để có kế hoạch tiết kiệm hay tái sử dụng.
Đây cũng là vấn đề cần được doanh nghiệp quan tâm hơn.3 CÁC BIỆN PHÁP TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG ĐÃ TIẾN HÀNH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP Sau khi công tác kiểm toán năng lượng được triển khai, một số biện pháp TKNL đã được thực hiện tại các doanh nghiệp, dưới 3 hình thức: ■ Các doanh nghiệp tự thực hiện các biện pháp thuộc: Khâu quản lý như: cân đong sản phẩm và phế phẩm (trường hợp Công Ty Mai Lan), cài đặt lại nhiệt độ hệ thống nước nóng cũng như nhiệt độ phòng (trường hợp Khách sạn Palace), lập các biểu đồ theo dõi tình hình sử dụng điện nước suất tiêu hao điện năng từng phân xưỏng (Công ty Sản xuất hàng tiêu dùng Bình Tiên Bid’s).ỉ Biếu đồ theo dõi tình hình sửdụní> diện nước tại Coni' Ty Bid's Hình 1.2 Các van, mặt hích đã đưực bảo ôn sau kiểm toán tại Coni' 7’v Bin's. Các biện pháp đơn giản, dễ thực hiện như: bọc bảo ôn lại các đường ống, cải tạo lại hệ thông chiếu sáng (trường hợp Công Ty WEC Sài Gòn, Công Ty VISSAN, Công ty Dệt Sài Gòn, Bill’s, Công Ty Chế Tạo Máy Sài Gòn). Đây là các biện pháp TKNL đơn giản, không cần chi phí đầu tư hay đầu tư rất thấp. - 5 - ■ Các doanh nghiệp giao cho nhóm kiểm toán trực tiếp thực hiện các biện pháp TKNL.
Thường các biện pháp này đòi hỏi việc thiết kế và tính toán kỹ thuật mà bản thân doanh nghiệp không đủ sức thực hiện. Đây là trường hựp đa số doanh nghiệp đã tiến hành, bao gồm: Công Ty Giấy An Bình với hệ thống biến tần cho các máy xeo Công Tỵ Nhựa Chí Thanh với hệ thống bảo ôn và lắp biến tần cho máy ép nhựa Công Ty Dệt Sài Gòn với hệ thống bẫy hơi để thu hồi nước ngưng và bọc bảo ôn lại đường ống hơi Khách sạn Palace với hệ thông tự động hoá hệ thống lạnh trung tâm nhằm giảm tiêu thụ điện năng.