Chương 1: Những cơ sở lí luâ ̣n. Chương 2: Thực tra ̣ng da ̣y ho ̣c tác phẩ m “Văn tế nghiã si ̃ Cầ n Giuô ̣c ” trong nhà trường trung ho ̣c phổ thông. Chương 3: Tổ chức học sinh tiếp cận tác phẩm “Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu theo hướng văn hoá. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.
Tiế p câ ̣n hê ̣ thố ng trong da ̣y ho ̣c tác phẩ m văn chƣơng 1. Khái niệm hệ thống 1. Khái niệm hệ thống có trong tất cả mọi lĩnh vực khoa học và khoa học liên ngành từ cấp độ vĩ mô đến cấp độ vi mô, được sử dụng với nhiều cụm từ như: Lý thuyết hệ thống, khoa học hệ thống, tư duy hệ thống, triết học hệ thống, quan điểm hệ thống, hướng tiếp cận hệ thống, phân tích hệ thống, phương pháp hệ thống… 1. Khái niệm hệ thống mà chúng tôi nói tới ở đây được sử dụng cả từ hai phía: - Thứ nhất hệ thống thuộc về đối tượng nghiên cứu, tức là cấu trúc hệ thống của tác phẩm văn học.
- Thứ hai hệ thống với tư cách là phương pháp để chiếm lĩnh đối tượng. Đó chính là phương pháp tiếp cận hệ thống đối với tác phẩm văn học. Hai phía thống nhất làm một, theo tinh thần của Hêghen: “Phương pháp là hình thức vận động của nội dung sự vật”. Hệ thống, theo cách hiểu thông thường, là: một tổ hợp những yếu tố có những mối liên hệ nhất định với nhau.
Theo Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh thì hệ thống là “thứ tự của sự vật có quan hệ với nhau”. Từ điển Hán Việt của Bửu Kế giải thích rõ hơn: “ Hệ có nghĩa là ràng buộc, thống có nghĩa là manh mối. Hệ thống có nghĩa là những sự vật có liên quan với nhau và hướng về nền tảng nhất định”[dẫn theo 18, tr. Trong nhiều ngôn ngữ Châu Âu, từ hệ thống bắt nguồn từ Sustema của Hy Lạp có nghĩa ban đầu là tập hợp.
Trong toán học, lý thuyết tập hợp cho thấy: một tập hợp có thể có chung một đặc tính, nhưng tập hợp cũng hoàn toàn có thể có những tính chất bất kì, tùy tiện. Hệ thống là tập hợp nhưng một 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tập hợp mà các thành phần có quan hệ ràng buộc lẫn nhau, chi phối nhau, hoặc theo ngôi thứ, hoặc theo nguyên tắc thống nhất. Cho nên hệ thống là tập hợp nhưng tập hợp chưa hẳn đã là hệ thống. Cần phân biệt điều này.
Ludwig Bertalanffy (1940) với triết học hệ thống như đã nói ở trên đã xem “hệ thống là một tổng thể các phân tử có quan hệ, có tương tác với nhau”[16, tr.Cudơmin cho rằng: “hệ thống là một tập hợp những yếu tố liên hệ với nhau, tạo thành sự thống nhất ổn định và tính chỉnh thể, có những thuộc tính và những quy luật tổng hợp”[18, tr. Có thể nói: hệ thống là một chỉnh thể thống nhất bao gồm những thành tố khác nhau kết hợp và tương tác với nhau để tạo nên những thuộc tính mới mà các thành tố riêng lẻ không có được. Và chỉnh thể bao giờ cũng lớn hơn tổng số các bộ phận. Hệ thống bao giờ cũng gắn với một cấu trúc.
Các bộ phận được cấu trúc theo cách nào thì sinh ra hệ thống ấy và hệ thống nào thì có ý nghĩa ấy. Bởi vậy có cách gọi cấu trúc hệ thống, bao gồm nhiều hệ. Mỗi hệ thống vừa là thành tố của hệ cao hơn, vừa là hệ thống mẹ của những hệ thống con thấp hơn. Cấu trúc của hệ thống là cách thức tương tác giữa các bộ phận cấu thành và nó xác định đặc trưng về chất của hệ thống.
Cấu trúc của hệ thống quy định chất lượng của hệ thống. Chức năng của hệ thống là cách thức hoạt động có mục đích nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của hệ thống, là khả năng biến “đầu vào” thành “đầu ra” (thuộc tính mới) của hoạt động hệ thống. Cấu trúc chức năng đảm bảo tính ổn định của hệ thống. Nếu rối loạn chức năng thì đó là dấu hiệu hệ thống bị trục trặc và là nguy cơ tan rã của hệ thống.
Hệ thống có thể phát triển, có thể thay đổi do sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập bên trong của hệ thống, trong mối quan hệ với “môi trường” (ngoài hệ thống). Như vậy, phương pháp hệ thống là cách thức xem xét đối tượng nghiên cứu như một hệ toàn vẹn, có cấu trúc xác định và vận động phát triển nhờ sự 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tương tác theo quy luật riêng của các bộ phận cấu thành. Chính nhờ sự tương tác này đã phát sinh ra chất lượng mới – chất lượng toàn vẹn của chỉnh thể lớn hơn tổng các bộ phận của nó. Cấu trúc hệ thống của tác phẩm văn học Cấu trúc hệ thống của tác phẩm văn học mang đầy đủ những đặc điểm, tính chất của hệ thống như các khái niệm trên đây.
Tuy nhiên, cấu trúc hệ thống của văn học lại mang đặc trưng riêng biệt của cấu trúc tác phẩm nghệ thuật ngôn từ, khác với các loại hình cấu trúc khác. Đó là một chỉnh thể bao gồm nhiều thành tố tương tác với nhau: nhà văn – văn bản – người đọc. Có thể nói hệ thống này, bao gồm hai phân hệ cơ bản: - Hệ thống 1: là hệ thống do văn bản tạo nên - Hệ thống 2: là hệ thống do quan hệ tương tác giữa văn bản (và từng bộ phận trong văn bản) với người đọc (bao gồm các yếu tố: văn hóa, ngôn ngữ trong một bối cảnh, tình huống cụ thể). Trong hệ thống 1, nội dung thẩm mỹ có thể toát ra do sự phối ứng giữa các mảng do văn bản tạo lập.
ví dụ: tương tác giữa hình tượng này với hình tượng kia, mảng ý này với mảng ý kia, phần sau với phần trước, hình ảnh với nhịp điệu, hình ảnh với biện pháp tu từ…Đây chính là cấu trúc nội tại của văn bản tác phẩm. Văn bản ở đây được hiểu là liên văn bản như cách nói của Roland Barther. Cấu trúc này là cấu trúc nhiều tầng. Bởi: “mỗi văn bản là một liên văn bản; những văn bản khác có mặt trong nó ở các cấp độ khác nhau dưới những hình thái ít nhiều nhận thấy được: những văn bản của văn hóa trước đó và những văn bản của văn hóa thực tại xung quanh.
Mỗi văn bản đều như là tấm vải mới được dệt bằng những trích dẫn cũ. Những đoạn của các mã văn hóa, các định thức, các cấu trúc nhịp điệu, những mảng vụn biệt ngữ xã hội…tất cả đều bị văn bản ngốn nuốt và đều hòa trộn trong văn bản, bởi vì trước văn bản và xung quanh nó bao giờ cũng tồn tại ngôn ngữ. Với tư cách là điều kiện cần thiết ban đầu cho mọi văn bản, tính liên văn bản không thể bị lược quy vào vấn đề về 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nguồn gốc hay ảnh hưởng : nó là trường quy tụ những định thức nặc danh, khó xác định nguồn gốc, những trích dẫn vô thức hoặc máy móc, được đưa ra không có ngoặc kép” [dẫn theo 18, tr. Trong hệ thống 2, nội dung thẩm mỹ được hình thành do sự tương tác với nhiều chi tiết, nhiều cấp độ phức tạp giữa văn bản với nhận thức cảm thụ của độc giả gắn với tình huống văn hóa, ngôn ngữ của thời đại độc giả.
Bởi vậy, nội dung thẩm mĩ được sản sinh gắn với “cấu trúc tiếp nhận” và cấu trúc “phản tiếp nhận” của người đọc, tạo ra sự phong phú vô hạn những “mô hình tiếp sau”. Có thể nói sự “năng sản” ở đây mang cấp số nhân. Đây chính là hệ thống “mở” của tác phẩm, mang đến chân trời rộng lớn cho nhận thức cảm thụ văn học. Hệ thống 1 và hệ thống 2 như vừa trình bày ở trên tiếp tục tương tác, phối ứng với nhau đã tạo nên một chỉnh thể lớn của tác phẩm văn học, tạo ra những “thuộc tính mới” lớn hơn văn bản, lớn hơn tổng số các thành tố.
Cấu trúc hệ thống của tác phẩm văn học như vậy, không thể hiểu một cách giản đơn. Hệ thống ở đây vừa mang tính cấu trúc, vừa mang tính chức năng của nhận thức thẩm mĩ. Đúng như quan niệm của Tynyanov: “Quan hệ tương hỗ cùa mỗi yếu tố trong tác phẩm văn học, với tư cách một hệ thống với những yếu tố khác, tức là với toàn bộ hệ thống, tôi gọi là chức năng cấu trúc của yếu tố đó. Nếu xem xét kĩ hơn ta sẽ thấy chức năng này là một khái niệm khá phức tạp.
Yếu tố quan hệ tương tác cùng lúc: một mặt, với hàng loạt các yếu tố tương tự của những tác phẩm hệ thống khác, thậm chí của những lĩnh vực khác, mặt khác với các yếu tố của chính bản thân hệ thống (chức năng tự động hóa và chức năng đồng bộ Avotofun Ksia và Cin funKsia)” [dẫn theo 18, tr. Chính điều này tạo nên tính nhiều tầng, nhiều lớp, quan hệ dọc ngang, nhiều hệ “vi mạch”, vận động không ngừng. Và dẫn đến hệ quả: hình tượng là một cấu trúc, văn bản là một cấu trúc, tác phẩm là một cấu trúc…nhưng không thể dùng cấu trúc đơn thuần để giải thích chúng được. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sự phong phú của nội dung thẩm mĩ phải được cắt nghĩa từ tương tác hệ thống.
Vì tương tác là tương tác hệ thống, cho nên Tynyanov đã không ngần ngại khẳng định: “tác phẩm văn học là một hệ thống và văn học là một hệ thống. Chỉ trên cơ sở quy ước căn bản đó mới có thể xây dựng được một nền khoa học về văn học không đơn thuần khảo sát sự hỗn độn của các hiện tượng văn học mà nghiên cứu chúng” [dẫn theo 18, tr. Cũng theo Tynyanov: “bản thân khái niệm về một hệ thống liên tục tiến triển, luôn mâu thuẫn. Hệ thống văn học trước hết là hệ thống các chức năng thuộc phạm vi văn học liên tục có quan hệ tương tác với những hiện tượng thuộc các lĩnh vực khác…”.
[dẫn theo 18, tr. Quan niệm trên đây đã dẫn đến một luận điểm quan trọng, đó là sự liên đới giữa các chỉnh thể: hệ chỉnh thể của tác phẩm, hệ chỉnh thể của văn học và hệ chỉnh thể của văn hóa. Quan hệ tương hỗ, sống động trong sự vận động của ba hệ chỉnh thế ấy chính là căn cứ để chúng ta giải thích ý nghĩa triết học, nội dung thẩm mĩ của tác phẩm văn học.