mở đầu cho một sự thay đổi sâu sắc trong sân khấu truyền thống. Vở kịch đầu tiên được chuyển thể bằng chữ quốc ngữ Bệnh tưởng của Molière đã đánh dấu một bước ngoặt lịch sử và cho ra đời vở kịch nói Việt Nam đầu tiên Chén thuốc độc của tác giả Vũ Đình Long năm 1921. Các trí thức Việt Nam xem kịch nói bằng tiếng Quốc ngữ trong các nhà hát, đó là thứ ngôn ngữ được thực dân khuyến khích phát triển, là cách để tự giải phóng khỏi văn hóa Trung Hoa, khẳng định sự đô hộ thuộc địa. Sau khi khánh thành, Nhà hát thành phố đêm đêm đỏ đèn đón khán giả tới xem các chương trình biểu diễn từ âm nhạc, ôpêra đến kịch 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nói, chủ yếu là người Âu và giới thượng lưu người Việt.
Vở kịch nói Việt Nam đầu tiên Chén thuốc độc của Phong Di Vũ Đình Long được công diễn đầu tiên tại Nhà hát thành phố, nhân dịp kỷ niệm một năm ngày thành lập Hội Bắc Kỳ Công thương Đồng nghiệp. Trong cuốn sách Kịch nói và Việt Nam, nhà nghiên cứu Corinne Flicker cho người đọc thấy thế nào là nghịch lí trong sự đồng hóa về mặt văn hóa của thực dân và trong sự xây dựng nền móng nhà nước độc lập và hiện đại, đồng thời bà cũng xem xét ba con đường mà kịch nói Pháp đi vào Việt Nam: qua báo và các ấn phẩm, các bản dịch và cải biên, cuối cùng là sự ứng dụng đan xen giữa kịch nói Pháp và Việt Nam từ đó đến nay. Trước khi tiếp nhận ảnh hưởng của sân khấu phương Tây, sân khấu Việt Nam cũng đã phát triển sôi nổi, nhưng chỉ có ca kịch (lời thoại gắn liền với âm nhạc), với hai thể loại phổ biến nhất là chèo và tuồng. Tuồng, chèo được coi là hai loại hình sân khấu dân tộc đã định hình trước khi kịch nói du nhập vào nước ta.
Chèo, tuồng đã có được vị trí rất đặc biệt trong nền sân khấu cũng như trong thói quen thưởng thức nghệ thuật trình diễn của người xem. Chèo và tuồng cũng có đôi nét tương đồng với hài kịch, những nét tương đồng đó chính là cơ sở nền tảng cho việc tiếp nhận hài kịch Molière ở Việt Nam. Chèo là hình thức sân khấu truyền thống sử dụng nhiều yếu tố hài hước. Chất hài hước đó thấm đẫm trong các tình huống và những biến hóa của nhân vật trên sân khấu.
Tiếng cười trong chèo được gắn liền với nhân vật hề (như một motif quen thuộc). Có thể nói, các trò diễn mang lại tiếng cười trong chèo chủ yếu được thể hiện thông qua nhân vật hề. Về mặt cấu trúc các vở chèo, “vai hề có mặt thường xuyên trong các trò, giễu đời, tự giễu cợt chính mình tạo nên tiếng cười lạc quan, giòn giã liên tục trong suốt tiến trình lịch sử của chèo cổ” [29]. Về ý nghĩa xã hội, “tiếng cười trào lộng là cái hay độc đáo, là thế mạnh của chèo, là vũ khí chiến đấu của người nghệ sĩ bình dân xưa chống lại tầng lớp thống trị, phê phán xã hội, châm biếm những thói hư tật xấu của con người, góp phần trừng ác, khuyến thiện, đồng thời tạo nên cho người xem chèo những giây phút sảng khoái sau khoảng thời gian lao động vất vả.
Với chèo cổ, đối tượng châm biếm của hề chèo là bọn quan lại tham nhũng 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và những kẻ xấu trong các tầng lớp xã hội nông thôn” [29]. Tiếng cười trên sân khấu chèo đã làm nên một diện mạo không hòa lẫn vào các nền sân khấu khác trong khu vực cũng như trên thế giới, nó mang đậm tính chất của loại hình sân khấu có nguồn gốc dân gian từ nền văn minh nông nghiệp. Khác với những nhân vật mang tính chất điển hình, cá thể, độc đáo trong văn học viết, vai hề chèo trong chèo không mang dấu ấn cá nhân mà thường mang một motif chung như mẹ Đốp, anh hề. Họ mang một cái tên chung, diện mạo chung, chức năng chung là mua vui cho khán giả.
Có thể nói, vai hề trong chèo và những nhân vật gây cười trong kịch của Molière có những sự khác nhau cơ bản trong cách xây dựng tâm lí, thói quen và cách thức hành động, nhưng cũng có sự tương đồng nhất định về vai trò tạo nên tiếng cười của nhân vật trên sân khấu, tính khái quát trong hình tượng và những ý nghĩa xã hội sâu xa được tác giả chuyển tải thông qua nhân vật đó. Về măt thủ pháp gây cười, trong chèo ở Việt Nam vốn cũng rất phổ biến những motif như nhận nhầm, điệu bộ, huyên náo, đánh lộn, gậy ông đập lưng ông, lối nói nhại, chơi chữ… Vì vậy, những điểm tương đồng đó của chèo truyền thống và hài kịch nước ngoài đã được đón nhận nhiệt tình ngay sau khi hài kịch xuất hiện ở Việt Nam. Khán giả Việt Nam nhận thấy, ngoài sự khác nhau lớn nhất là về sự tồn tại/ không tồn tại của âm nhạc, còn giữa chèo truyền thống và hài kịch hiện đại cũng ít nhiều có những điểm tương đồng rất dễ nhận ra. Tiếng cười của tuồng, chèo truyền thống bật lên rộn rã bởi những thủ pháp ấy thì giờ khán giả cũng có thể cười cùng hài kịch cũng do chính những thủ pháp đó.
Hiệu quả tiếng cười của sân khấu kịch hát truyền thống đã tạo tiền đề cho cơ hội tiếp cận với các nguyên tắc cơ bản của hài kịch phương Tây. Chính bởi những thành tựu của chèo, tuồng, chính sự ăn sâu bén rễ của nó trong tâm thức người Việt mà trong quá trình phát triển ở nước ta, tiếng cười trên sân khấu kịch nói đã không tiếp thu ảnh hưởng kịch phương Tây một cách hoàn toàn, thụ động, mà luôn có sự tương tác, kết hợp với những đặc trưng của của nghệ thuật dân gian truyền thống. Trong thực tế ở sân khấu kịch nói, khi sử dụng cái hài để chấm biếm, đả kích những thói hư tật xấu của con người, các 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghệ sĩ vẫn luôn hướng về truyền thống, tích hợp những thủ pháp gây cười quen thuộc của dân gian. Sự tích hợp văn hóa trong một loại hình sân khấu được du nhập từ phương Tây là thành tựu văn hóa đáng ghi nhận của sân khấu Việt Nam thế kỉ XX.
Đặc trưng này cũng gợi mở nhiều hướng nghiên cứu thú vị về sự tiếp nhận kịch Molière ở Việt Nam trong sự hòa trộn với văn hóa bản địa một cách nhuần nhị. Bên cạnh hai thể loại có lịch sử ra đời và phát triển lâu đời là chèo, tuồng, đầu thế kỷ XX, một thể loại ca kịch mới là cải lương được hình thành ở Nam Bộ trên cơ sở nhạc Tài tử. Cải lương phát triển nhất ở khu vực Nam Bộ và góp phần làm nên bản sắc riêng ở khu vực này. Thể loại sân khấu mới này hòa trộn nhiều nguồn ảnh hưởng, trong đó đáng chú ý là có cách trình diễn tại nhà hát có phông màn theo lối của người Italia.
Sự hiện diện của cải lương, chèo, tuồng trong nền sân khấu dân tộc cũng góp phần quan trọng vào việc quy định sự tiếp nhận kịch nói nói chung và hài kịch Molière nói riêng. Khi kịch nói du nhập vào nước ta, sân khấu cũng có nhiều nỗ lực phát triển để thay đổi diện mạo. Ở miền Bắc, chèo cũng từng bước được cải biên. Tuy nhiên, hình thức ca kịch đã không còn đáp ứng được nhu cầu thưởng thức và thị hiếu của các tầng lớp dân chúng thành thị đang tăng lên nhanh chóng.
Thực tế đó đòi hỏi và cũng mở đường cho thể loại kịch nói phát triển ở nước ta như một loại hình văn học và loại hình sân khấu mới mẻ. Trước khi những bản dịch kịch đầu tiên và những vở kịch nói đầu tiên được công bố, trình diễn ở nước ta thì kịch nói cũng đã manh nha phát triển từ những năm 1912. Ông Lê Thanh Hiền đã sưu tầm được những tài liệu xoay quanh vở kịch Thương khó – một trong nhưng vở kịch được coi là đầu tiên của nước ta. Những tài liệu quý giá đó bao gồm: một kịch bản Thương khó gồm 150 trang in năm 1912, tái bản lần thứ hai năm 1915, tái bản lần ba năm 1923, cùng tại Quy Nhơn; một tập sách ảnh vở Thương khó gồm 38 kiểu các lớp diễn in năm 1913 tại Sài Gòn; ba là một kịch bản Opera Thương khó.
Như vậy chúng ta có thể thấy Thương khó có hình thức và sức lan tỏa rất đa dạng và phong phú và cũng đã gây được ít nhiều tiếng vang. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo Đề dẫn ở đầu sách kịch Thương khó (in tại Quy Nhơn năm 1912), thì vào năm 1632, dân làng Oberammergau, trong xứ Bavaria, thuộc nước Đức hợp lực làm nên kịch Thương khó diễn để dâng tạ Đức Chúa Trời đã che chở cho dân làng ấy thoát khỏi đại dịch. Kịch diễn tích về Chúa Jesus. Và chỉ bằng tiền hảo tâm ở những người xem kịch mà dân làng xây được một hội trường đủ chỗ cho hàng ngàn người ngồi.
Về sau cả nước Đức theo làng Oberammergau làm kịch Thương khó. Dần dần kịch Thương khó trở thành tích trò dân gian vượt ra ngoài biên giới, phổ biến rộng rãi khắp năm châu. Cũng theo sách dẫn trên cho biết, kịch Thương khó du nhập Việt Nam do J.Tòng biên soạn- dàn dựng, tập liền trong vòng năm tháng thì xong, đem công diễn tại Sài Gòn năm 1912, được nhiều thành phần xã hội cùng hào hứng đón xem hoan hỷ. Mỗi lần diễn có từ ba đến bốn nghìn người xem [3].
Hay như đối với hài kịch Lão hà tiện, một trong những tác phẩm của Molière rất phổ biến ở Việt Nam, thì với đề tài keo kiệt, trong văn học dân gian Việt Nam cũng đã có tới 13 truyện xoay quanh đề tài này như Nhà giàu keo bẩn, May không đi giày, Thà chết còn hơn, chó đá, Tiểu hà tiện – đại hà tiện [7]… Những yếu tố đó đã góp phần tạo nên một nền tảng để tiếp nhận hài kịch Molière.