Chương 1. Một số van dé lý luận về thương mại hóa dit liệu Chương 2. Thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện của một số quốc gia trên thế giới về thương mại hóa đữ liệu Chương 3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thương mại hóa đữ liệu Is.
CHUONG 1 MOT SO VAN DE LY LUAN VE THUONG MAI HOA DU LIEU 1. Khái niệm va đặc điểm của dữ liệu 1. Khái niệm dit liệu Dữ liệu, với tầm quan trọng của chúng, hiện nay đã trở nên vô cùng phổ biến trong đời sống hàng ngày của mỗi con người. Chúng ta có xu hướng đề cập đến đữ liệu khi nhắc đến các thông tin, hình ảnh hay vật chất tồn tại xung quanh nhưng đôi khi chính bản thân chúng ta cũng không hiểu được cụ thé thé nào là đữ liệu đo đây là một thuật ngữ tương đối trừu tượng và được nghiên cứu ở rất nhiều các góc độ khác nhau.
Dưới góc độ ngôn ngữ, “dữ liệu” có thể được hiểu là “số liệu, tư liệu đã có, được dựa vào dé giải quyết một van đề ”! Như vậy, nếu nhìn ở khía cạnh ngôn ngữ học thì khi nói về đữ liệu là chúng ta sẽ đề cập đến các con số hay các loại vật chất nhất định được sử dụng bởi con người, với một mục tiêu nhất định là để giải quyết một vấn đề nào đó. Đưới góc độ tin hoc, “dt liệu” được hiểu là “chất liệu ban đâu của thông tin, thường là các giá trị của thông tin định lượng như giả bán của một mặt hàng, số nhà được xây dựng, số người trong một đơn vị, vv. Trong tin hoc, dit liệu được dùng như một cách biểu diễn hình thức hóa của thông tin vé các sự kiện, hiện tượng, thích ứng với yêu câu truyền đưa, thể hiện và xử lý bằng máy tính và hệ máy tính”. Từ góc độ nay, chúng ta có thé thấy rang đữ liệu được xem là cái cấu thành nên thông tin, là cách thể hiện ra bên ngoài của thông tin, được xử lý thông qua hệ thống máy tính dé truyền tải những nội dung nhất định.
Dưới góc độ các quy định pháp luật, bản than thuật ngữ “dữ liệu” cũng là thuật ngữ nhận được rất nhiều sự quan tâm ở nhiều quốc gia trên thế giới vì chỉ khi xây dựng được khái niệm về thuật ngữ này thì các nhà làm luật mới có thể đưa ra được các quy định liên quan đên các vân đê vê dữ liệu. ' Viện ngôn ngữ học (2003), Tit điển tiéng Việt, Nxb Hồng Đức, tr. 269 a Trung tâm biên soạn từ điên bach khoa Việt Nam, 7? điền bách khoa Việt Nam tập 1, tr. 691 16 Ở Việt Nam, theo quy định của khoản 5 Điều 4 Luật giao dịch điện tử 2005, “đữ liệu là thông tin dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dang tương fự”.
Tuy nhiên, trong Luật giao dịch điện tử 2023 tại khoản 6 Điều 3, khái niệm về dữ liệu đã được sửa đổi, theo đó “di liệu là ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự khác”. Như vậy có thể thấy rằng sự khác biệt lớn nhất giữa khái niệm đữ liệu trong hai văn bản nêu trên chỉ nằm ở một điểm duy nhất, đó là Luật giao dịch điện tử 2005 thì cho rằng dữ liệu là thông tin, trong khi đó Luật giao dịch điện tử 2023 thì không quy định dữ liệu là một loại thông tin nữa. Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 2 của Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 về bảo vệ đữ liệu cá nhân có quy định “dit liệu cá nhân là thông tin dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự trên môi trường điện tử gắn liền với một con người cụ thể hoặc giúp xác định một con người cu thé”. Đối với pháp luật của Liên minh Châu Au, theo Quy định 2022/868 của Nghị viện và Hội đồng Châu Âu về quản tri diy liệu Châu Âu và sửa đổi Quy định 2018/1724 (Đạo luật quản trị dữ liệu), tại Điều 2 (1), “di liệu là bat kỳ sự mô tả trên nên tảng số nào của các hành vi, sự việc hoặc thông tin và bat kỳ tập hợp các hành vi, sự việc hoặc thông tin, được thể hiện dưới dạng âm thanh, hình ảnh hoặc băng ghi âm ghi hình”.
Tại Hội nghị Liên minh Châu Phi năm 2012 về An ninh mang và Bảo vệ dtr liệu cá nhân, trong Điều 1, Hội nghị có đưa ra khai niệm về “dit liệu máy tính” (computerized data) là “bat kỳ sự mô ta nào vé sự việc, thông tin hoặc khái niệm trong một hình thức phù hợp dé xử lý trên hệ thong máy tính ”`. Dưới góc độ khoa học pháp lý, các tác giả cũng đã đưa ra một số khái niệm khác nhau về di liệu nói chung cũng như đữ liệu cá nhân. Trong luận văn thạc sỹ về “Bảo vệ dit liệu cá nhân — Một số vấn dé lý luận và thuc tiễn ” của tác giả Phạm Hoàng Thanh, tại trang 13, tác giả có dua ra quan 3 Xem thêm tại https://eur-lex.eu/legal- conien/EN/TXT/2uri=CELEX%3A32022R0868&aid=1698837984186, ngày truy cập 1/11/2023 * Xem thêm tai https://au.int/sites/default/files/treaties/29560-treaty-0048_- african union conventon on cyber securify and _personal đata protection_e.pdf, ngày truy cập 1/11/2023 Ly điểm cá nhân về dữ liệu cá nhân, đó là “2ổ hợp thông tin về một cá nhân cụ thể, được thu thập, xử ly, lưu trữ dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự ma có thể dung đề nhận dạng, xác định, định danh cá nhân đó trong các mối quan hệ xã hội”. Hay trong bài viết về “Một số vẫn đề về dự thảo Nghị định về bảo vệ đữ liệu cá nhân”, tác giả Vương Thanh Thúy có nhận định rang dữ liệu là “tap hợp các dit kiện và chỉ tiết như văn bản, số liệu, quan sát, biểu tượng hoặc đơn giản là mô tả về sự vật, sự kiện hoặc thực thể được thu thập nhằm rút ra các suy luận.
Nói cách khác, dữ liệu được xác định là các sự thực khách quan, can được xử lý để thu được thông tin > oN goai ra, hoc gid Bygrave trong công trình của mình cũng có đưa ra khái niệm về dữ liệu đó là “các dau hiệu, mau hình, đặc điểm hoặc biểu tượng có khả năng đại diện cho một thứ (một quá trình hoặc vật thể) từ thế giới vật chất và thông qua đó, có thể truyền đạt thông tin về thứ nay”. Như vậy, sau khi tham khảo rất nhiều góc nhìn về khái niệm dữ liệu ở nhiều khía cạnh khác nhau, chúng ta có thé rút ra được rằng hiện nay đang tồn tại hai quan điểm chính về đữ liệu, đó là đữ liệu có phái là một đạng thông tin hay không? Dé làm rõ được yếu tế này thì cần thiết phải nghiên cứu sâu hơn về nguồn gốc và ý nghĩa của dữ liệu và thông tin trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Thuật ngữ “thông tin” (information) ban đầu vốn có nguồn gốc từ tiếng Latin và Hy Lạp cô. Sau đó, từ information bằng tiếng anh bắt đầu xuất hiện lần đầu ké từ năm 1386, được liên kết giữa tiếng Latin và tiếng Pháp, bằng cách kết hợp “inform” (nghĩa là hình thành nên một khuôn mẫu cho trí óc) và “ation” (ám chi “action” — hành động).
Từ đó, “information” được hiểu là việc dao tạo, đưa vào khuôn mẫu cho trí óc”. Điều này cũng tương thích với ý nghĩa được ghi nhận trong Từ điển tiếng anh Oxford, theo đó “inform” nghĩa là hình thành (về Vương Thanh Thúy, Một số vấn đề về dự thảo Nghị định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, Tạp chí Luật học số 7/2022, tr. "The body as data? Biobank regulation via the ‘Back Door’of data protection law.” Law, Innovation and Technology 2. DOI: https://doi.5235/175799610791935443, truy cập ngày 2/11/2023 7 Logan RK (2012) What Is Information?: Why Is it Relativistic and What Is its Relationship to Materiality, Meaning and Organization.
Information 3(1), 68-91, xem thêm tai https:/Avww.com/2078-2489/3/1/68 ngày truy cập 2/11/2023 18 trí óc, tính cách.) đặc biệt thông qua việc học hoặc hướng dẫn. Sự xuất hiện của khái niệm hiện đại về thông tin được cho là có mối liên hệ với sự phát triển về công nghệ thông tin, lý thuyết thông tin và khoa học, điều khiển học trong tác phẩm của các học giả Shannon và HartleyŸ, vốn tập trung vào kha năng truyền dẫn thông tin giữa các thiết bị. Lý thuyết toán học về thông tin có liên quan đến khả năng lưu trữ, giao tiếp đến và giữa các máy móc, phương thức định lượng thông tin như một thực thé toán học. Sự phát triển của lý thuyết thông tin này gắn liên với việc truyền dan các dấu hiệu và thông điệp, từ đó dẫn đến cách hiểu về thông tin như là các kién thức được giao tiếp, truyền dat.
Dữ liệu, về mặt từ ngữ, thường được hiểu một cách truyền thống đưới góc độ hoàn toàn thuộc về cau trúc, hay nói cách khác nó mang tính chất mô tả, đại diện. Vì thế, trong từ nguyên học, người ta nói đến dữ liệu (data) là nhắc đến từ mang tính chất số nhiều của “đữ kiện” (đatum), còn được hiểu theo nghĩa đen là “một cái được cho là” (that which is given)’. Tuy vậy, lý do tại sao lại có những cách hiểu rộng hơn đối với đữ liệu thì điều này xuất phát từ việc bản thân thuật ngữ “đữ liệu” có nguồn gốc chủ yếu từ lĩnh vực máy tính và công nghệ thông tin, từ đó người ta bắt đầu hiểu rằng đữ liệu được xem như thông tin ở đưới dạng số. Nói cách khác, mặc đù trước đó đữ liệu được hiểu đơn thuần là một thứ có thé được quan sắt, có thé được san xuất về mặt thực nghiệm và thực tế cũng như có tinh chất mô tả thì ké từ thé kỷ 20 với sự trỗi dậy của công nghệ máy tinh và lý thuyết thông tin, điều này càng cúng có thêm cho địa vị của dit liệu với ý nghĩa là một loại thông tin cụ thể!?, Về mối quan hệ giữa dữ liệu và thông tin, cần phải thừa nhận rằng đây là van dé còn gây khá nhiều tranh cãi.
Điều 4(1) của Quy định 2016/679 của Liên minh Châu Âu về bảo vệ dit liệu cá nhân (GDPR) có ghi nhận “di liệu cá nhân bao gom bat kỳ thông tin nào liên quan đến một con người tự nhiên được xác định Š Shannon CE (1948) The Mathematical Theory of Communication. Bell System Technical Journal 27(1), 623— 656; Hartley RVL (1928) Transmission of Information. Bell System Technical Journal 7(3), 535-563. ? Davies W (2015) The Happiness Industry.
Verso, London; New York. »ã Rosenberg D (2013) Data before the Fact. In: L Gitelman (ed) Raw Data Is an Oxymoron, tr. The MIT Press, Cambridge, MA; London, xem thêm tại hitps://doi.0003, ngày truy cập 2/11/2023.