phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về thụ lý vụ án dân sự Chƣơng 2 Thực trạng pháp luật Việt Nam về thụ lý vụ án dân sự Chƣơng 3 Thực tiễn thực hiện, định hƣớng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thụ lý vụ án dân sự TIEU LUAN MOI download6 : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ 1.Quyền khởi kiện - Cơ sở của việc thụ lý vụ án dân sự Lịch sử nền văn minh nhân loại là một quá trình đấu tranh khẳng định các quyền cơ bản của con ngƣời. Các quyền ấy luôn đƣợc coi là vấn đề thiêng liêng, cơ bản, và cũng luôn là khát vọng của toàn thể nhân loại. Quyền con ngƣời đƣợc sinh ra và đồng thời cũng đƣợc bảo đảm nhƣ một lẽ tự nhiên. Nó là vấn đề quan trọng trong luật pháp của mỗi quốc gia, và pháp luật có vai trò rất lớn trong việc bảo đảm, bảo vệ quyền đó.
Quyền con ngƣời là những giá trị xã hội cao quý đƣợc thừa nhận và bảo vệ chung của cả nhân loại tiến bộ. Quan niệm về quyền con ngƣời đã đƣợc các nhà tƣ tƣởng bàn đến từ thời cổ đại và không ngừng đƣợc phát triển, bổ sung cùng với quá trình phát triển của lịch sử nhân loạn. Khi bàn đến quyền con ngƣời Jaeque Mourgeon trong cuốn “Các quyền con ngƣời“ đã cho rằng: Quyền con ngƣời trƣớc hết đƣợc hiểu là những đặc quyền tự nhiên mà con ngƣời có. Đó là khả năng hành động có ý thức, trách nhiệm nhất là tự bảo vệ.
Nhƣng bản thân đặc quyền (quyền tự nhiên) chƣa phải là quyền con ngƣời. Mà để đạt đến cái gọi là “quyền“ thì phải có yếu tố thứ hai là pháp luật. Chỉ khi đƣợc pháp luật ghi nhận thì các đặc quyền của cá nhân mới trở thành đối tƣợng điều chỉnh của pháp luật mới trở thành quyền con ngƣời [37, tr131]. Trên cơ sở quan niệm đúng đắn và khoa học về con ngƣời, chủ nghĩa mác đã xác định con ngƣời là con ngƣời xã hội bản chất con ngƣời trong tính hiện thực của nó là sự tổng hòa các quan hệ xã hội, cho nên quyền con ngƣời thể hiện sâu sắc giá trị các quan hệ xã hội và hiển nhiên mang bản chất đó [38, tr.
Trên cơ sở các quan niệm về quyền con ngƣời năm 1776, lần đầu tiên quyền con ngƣời đƣợc ghi nhận trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ: “Tất cả mọi ngƣời sinh ra đều có quyền đƣợc bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm đƣợc, trong đó có quyền sống, quyền tự do mƣu cầu hạnh phúc“. Năm 1791, trong tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp, quyền con ngƣời từng bƣớc đƣợc các quốc gia thừa nhận và quy định trong pháp luật của nƣớc mình. Ở nƣớc ta, vấn đề quyền con ngƣời đã đƣợc nghiên cứu và phản ánh TIEU LUAN MOI download7 : skknchat@gmail.com một cách phong phú và đa dạng thể hiện trong các văn kiện của Đảng, nhà nƣớc và các văn bản pháp luật. Theo từ điển giải thích thuật ngữ pháp lý thông dụng: “Quyền con ngƣời là các quyền tất yếu mà con ngƣời phải đƣợc hƣởng và các quốc gia phải tôn trọng“ [40, tr338].
Vì vậy, theo quan niệm chung hiện nay, “Quyền con ngƣời là những giá trị, năng lực, nhu cầu vốn có và chỉ có ở con ngƣời với tƣ cách là thành viên của cộng đồng nhân loại đƣợc thể chế hóa bằng pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế“ [40, tr 26]. Quyền con ngƣời là giá trị thắng lợi chung của nhân loại, nhƣng ở điều kiện kinh tế, chính trị- xã hội ở các châu lục, các khu vực, các quốc gia phát triển không giống nhau nên ở các quốc gia khác nhau thì năng lực và nhu cầu của mỗi thành viên xã hội sẽ không giống nhau mà phụ thuộc vào điều kiện kinh tế-chính trị-xã hội nhất định mà thành viên đó sinh sống. Cho nên, các quốc gia, quyền con ngƣời đƣợc thể hiện thành quyền công dân và đƣợc đảm bảo thực hiện bởi hệ thống luật pháp quốc gia đó. Theo quan niệm chung, đảm bảo là làm cho chắc chắn, thực hiện đƣợc, giữ gìn đƣợc hoặc có đầy đủ những gì cần thiết.
Vì vậy đảm bảo quyền con ngƣời nói chung là sự ổn định về chế độ chính trị, xã hội, một nền dân chủ rộng rãi, một nền kinh tế phát triển và ổn định, các quyền con ngƣời đƣợc quy định đầy đủ về số lƣợng, chất lƣợng, đƣợc nhà nƣớc bảo đảm thực hiện bằng các hoạt động khác nhau. Đảm bảo quyền con ngƣời trong tố tụng dân sự là một lĩnh vực đảm bảo quyền con ngƣời trong hoạt động tƣ pháp, để thực hiện đúng nguyên tắc của tố tụng dân sự và phải đặt nó trong mối quan hệ mật thiết với đảm bảo quyền con ngƣời trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Các đảm bảo quyền con ngƣời trong tố tụng dân sự bao gồm: phải có quy định đầy đủ, cụ thể, trong đó quyền quan trọng nhất là quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm. Cho nên, đòi hỏi phải có sự giám sát chặt chẽ, để các hoạt động trong lĩnh vực này luôn đƣợc thông suốt, đúng pháp luật đảm bảo tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
TIEU LUAN MOI download8 : skknchat@gmail.com Việc giám sát đối với hoạt động tƣ pháp cần phải phát huy đƣợc đông đảo các cơ quan nhà nƣớc, tổ chức xã hội và công dân tham gia. Chăm lo cho con ngƣời, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho sự phát triển toàn diện của con ngƣời, tôn trọng và bảo vệ quyền con ngƣời là những quan điểm chỉ đạo cơ bản và nhất quán, là nguyên tắc, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong đƣờng lối, chính sách chỉ đạo của Đảng ta trong quá trình lãnh đạo cách mạng, đƣợc thể chế hóa trong Hiến pháp và pháp luật của Nhà nƣớc ta. Nhận thức rõ vai trò quan trọng hàng đầu của việc bảo vệ quyền con ngƣời trong công cuộc cải cách tƣ pháp, Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị “Về chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020“ khẳng định: “Đòi hỏi của công dân và xã hội đối với cơ quan tƣ pháp ngày càng cao, các cơ quan tƣ pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con ngƣời, đồng thời phải là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả đối với các loại tội phạm và vi phạm [2]. Trong giao dịch dân sự, quyền và nghĩa vụ của chủ thể phát sinh chủ yếu từ các hợp đồng, hành vi pháp lý đơn phƣơng, các quyền lợi và nghĩa vụ ngoài hợp đồng và các căn cứ khác.
Các quyền và nghĩa vụ dân sự này thƣờng đƣợc pháp luật quy định và bảo hộ, tuy nhiên việc quy định và bảo hộ bằng pháp luật nội dung là chƣa đủ, bởi lẽ các quyền lợi của chủ thể hoàn toàn có thể bị phủ nhận hoặc xâm phạm bởi chủ thể khác. Theo đó, pháp luật còn phải quy định trao cho họ các công cụ pháp lý để thực hiện khi muốn bảo vệ các quyền bị xâm hại. Đây là một trong những vấn đề căn bản của pháp luật tố tụng dân sự mà ở đó đặc điểm về trọng thủ tục luôn đƣợc đề cao để tránh sự lạm quyền của Tòa án, hạn chế hành vi tùy tiện của đƣơng sự, hơn nữa đảm bảo quyền lợi của đƣơng sự khi họ thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Bởi vậy, để thụ lý vụ án dân sự, Tòa án không thể không xem xét đến thủ tục mà ngƣời khởi kiện thực hiện.Quyền khởi kiện Khởi kiện là hành vi đầu tiên của cá nhân, cơ quan, tổ chức tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự”.
Khởi kiện trƣớc hết là quyền dân sự của các chủ thể, là TIEU LUAN MOI download9 : skknchat@gmail.com phƣơng thức mà các chủ thể yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền dân sự cho mình, cho nhà nƣớc hoặc ngƣời khác và là cơ sở để Tòa án xem xét thụ lý giải quyết. Việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đƣợc ghi nhận bằng pháp luật của nhà nƣớc khi nhà nƣớc và pháp luật ra đời. Do đó, quyền khởi kiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân đƣợc pháp luật ghi nhận và chủ thể cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm có quyền khởi kiện yêu cầu cơ quan có thẩm quyền do nhà nƣớc quy định bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trong sự phát triển của xã hội, khi Nhà nƣớc và pháp luật ra đời thì việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đƣợc ghi nhận bằng pháp luật của nhà nƣớc và đƣợc bảo đảm thực hiện thông qua các thiết chế do Nhà nƣớc thiết lập.
Quyền khởi kiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân đã đƣợc pháp luật ghi nhận và chủ thể cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm có quyền khởi kiện yêu cầu cơ quan có thẩm quyền do Nhà nƣớc quy định bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Ở Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”[12, Điều 14]. Trong đó, quyền dân sự có ý nghĩa rất quan trọng, cơ quan, tổ chức, cá nhân đƣợc thực hiện các hành vi theo quy định của pháp luật nhằm thỏa mãn lợi ích của mình nhƣ lao động, sản xuất kinh doanh để tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu của bản thân và xã hội tham gia vào các giao dịch dân sự…Điều 9 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định tất cả các quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân đƣợc tôn trọng và đƣợc pháp luật bảo vệ. Khi quyền dân sự của một chủ thể bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền tự bảo vệ hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền: Công nhận quyền dân sự; buộc chấm dứt hành vi vi phạm; buộc xin lỗi, cải chính công khai; buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; buộc bồi thƣờng thiệt hại.
Quyền khởi kiện là một quyền dân sự.