Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN 1.1 Những nhân tố ảnh hướng đến xuất khẩu thủy sản 1.1 Đặc điểm sản phẩm Có nhiều cách phân loại thủy sản trên thế giới. tuy nhiên có một số cách phán loại cơ bản sau: phân loại theo môi trường sống, phân loại theo tiêu chuẩn của FAO, phân loại trong buôn bán và quản lý xuất nhập khẩu theo mã HS. Theo môi trường sống, thủy sản được chia thành thủy sản nước ngọt (như các loại cá chép, cá chày. thủy sản nước mặn sinh sống ở biển.
các đại dương (như mực. cua, tôm sú, cá ngừ, cá hồi, ngao.); thủy sản tầng nước mặt (chủ yếu là các loại cá hồi, cá đối, cá ngừ.) và thủy san tang đáy (cá tuyết.) Trong buôn bán và quản lý, thủy sản được phân loại theo hệ thống mã HS. Đây là cơ sở để tính thuế và quản lý xuất nhập khẩu của các nước cũng như các tổ chức liên quan. Theo cách phân loại của FAO, thủy sản được chia thành 7 loại chủ yéu: cá (sống, tươi sống, ướp lạnh hoặc đông lạnh); cá (muối, hun khói, sấy khô): nhuyén thể (sống, tươi sống, ướp lạnh hoặc đông lạnh); nhuyễn thể (hun khói, muối, sấy khô); giáp xác (sống, tươi sống, ướp lạnh hoặc đông lạnh); dầu cá và bột cá.
Thủy sản là một trong những mat hàng thực phẩm quan trọng đối với đời sống con người bởi là nguồn cung cấp nhiều protein (tới hơn 15% tổng lượng tiêu thụ protein có nguồn gốc từ động vật). Ngoài ra, thủy sản còn được sử dụng như các sản phẩm phi thực phẩm, cụ thể dùng để chế biến thức ăn phục vụ nuôi trồng thủy Sản và gia súc. Nhu cầu tiêu thụ thủy sản trên thế giới khá cao do thủy sản có kha năng thay thế khá hoàn hảo các loại thực phẩm như thịt gia súc, gia cầm. Giới y học thế giới đánh giá thủy sản là "thực phẩm lành", có thành phần a xít béo tự do Ômêga và hàm lượng protein tốt nhất cho cơ thể.
Xu hướng này lại càng được củng cố vững chắc do mức an toàn vệ sinh thực phẩm của thủy sản cao hơn các loại thực phẩm khác (50% thủy sản được đánh bắt từ môi trường tự nhiên), trong khi dich bệnh ở gia súc. gia cầm trên thế giới có chiều hướng gia tăng như các bệnh bò điên, bệnh than. dịch cúm gia cầm.2 Vai trò của xuất khẩu thủy san đối với các quốc gia Với ý nghĩa ngày càng cao của thủy sản trong đời sống, buôn bán thủy sản trên thế giới đã và dang phát triển mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu gia tang. đối với nhiều quốc gia, xuất khẩu thủy sản là nguồn thu ngoại tệ quan trọng để tăng tích lũy.
dự trữ quốc gia và tạo điều kiện phát triển các ngành kinh tế trong nước.Thậm chí ở một số nước, xuất khẩu thủy sản có vai trò cực kỳ to lớn. gần như sống còn đối với nền kinh tế như: Grinlen (Băng đảo) năm 2000 có giá trị xuất khẩu thủy sản chiếm tới 93,9% tổng giá trị xuất khẩu của đất nước; tương tự Aixơlen có giá trị xuất khẩu thủy sản chiếm ty trọng 64.4%; quốc đảo Phrôê thuộc Tay Âu chiếm 75,3%. Không chỉ là nguồn thu ngoại tệ mạnh góp phần vào tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu thủy sản còn cho phép các nước khai thác những lợi thế sẵn có của mình (như có vị trí địa lý gần biển, có tài nguyên thủy sản phong phú, nguồn lao động dồi dào. Ở nhiều nước dang phát triển, xuất khẩu thủy sản tốt đã tạo thuận lợi cho ngành thủy sản phát triển mạnh, đóng góp nhiêu trong việc tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập đời sống cho nhân dân, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực và mở rộng quan hệ thương mại quốc tế một cách có hiệu quả.3 Các yếu tố tác động đến xuát khẩu thủy sản Là một mặt hàng chủ yếu được sử dụng làm thực phẩm phục vụ đời sống con người, xuất khẩu thủy sản giống như các hàng hóa khác chịu tác động của những yếu tố cung cầu trên thị trường thế giới.
- Những yếu tố liên quan đến lượng cầu hàng thủy sản bao gồm: + Dân số: dân số lớn thông thường dân đến lượng cầu thủy sản cao do nhu cầu nhiều. Vi du Trung Quốc là nước có quy mô dân số trên 1 tỷ người, do đó, mặc dù có tống sản lượng thủy san trong nước rất lớn, khoang 38-40 triệu tấn/năm. nhưng vẫn không cung cấp đủ cho người dân trong nước, vì vậy hàng năm Trung quốc có nhu cầu nhập khẩu thủy sản rất nhiều và là một thị trường tiêu thụ thủy sản khổng lồ không có quốc gia nào sánh được. + Tinh hình kinh tế, chính trị của đất nước: có ảnh hưởng rất lớn tới nhu cầu nhập khẩu thủy sản bởi liên quan đến khả năng thanh toán và tình hình phát triển của các ngành kinh tế trong nước.
Minh chứng cho điều này là cuộc khủng khoảng kinh tế - tài chính năm 1997 đã ảnh hưởng trầm trọng tới nhập khẩu thủy sản của các nước Nhật Bản, Hồng Kông. là các thị trường nhập khẩu chính ở châu Á. khi kinh tế của những nước này được phục hồi thì lượng cầu thủy sản tăng, dan đến khối lượng nhập khẩu thủy sản lại khôi phục dan trở lại. + Mức thu nhập: mức thu nhập có liên quan mật thiết với tình hình phát triển kinh tế như phần trên đã nêu.
Cụ thể hơn, thu nhập cao, ổn định của dân chúng trên một thị trường thường sẽ kéo theo sức mua lớn đối với bất cứ hàng hóa nào, vì vậy tạo điều kiện cho các nhà xuất khẩu xâm nhập và duy trì thị phần của hàng hóa đó. Đối với hàng thủy sản điều này càng đúng. Thực tế cho thấy, do ưu điểm của loại thực phẩm này, thủy sản đã từng được xem là mặt hàng thực phẩm dat đỏ và là thứ "xa xi"d6i với những người có thu nhập thấp. Do đó, EU, Nhật Bản, Mỹ - những trung tâm kinh tế lớn của thế giới, có thu nhập bình quân đầu người khá cao.
nên cũng là nơi tiêu thụ nhiều nhất hàng thủy sản của thế giới (76%). Tuy nhiên, hiện nay cùng với sự gia tăng sản lượng thủy sản thế giới và quá trình cải thiện thu nhập của các tầng lớp dân cư. thủy sản đang dan mất đi tính chất xa xi và có xu hướng bình dân hóa tiêu dùng. Tiêu dùng thủy sản không chỉ còn tập trung ở các nước phát triển mà đang tăng dần ở cả các nước đang phát triển.
+ Khuynh hướng tiêu dùng: khuynh hướng tiêu dùng có tác động rất nhiều đến nhu cầu nhập khẩu thủy sản. Nhìn chung thái độ của người tiêu dùng thay đối theo sự hiểu biết của họ đối với sản phẩm. Xu hướng chung là thái độ về sản phẩm sẽ chuyển từ thấp đến cao, từ không quan tâm đến quan tâm, có hiểu biết và sẵn sàng mua san phẩm. Thủy sản ngày càng được ưa chuộng bởi là thực phẩm cung cấp tốt nhất nguồn chất đạm cho cơ thể, lại khong gây béo.
có mức an toàn thực pham cao. Nhưng trong lĩnh vực tiêu dùng thủy sản, thái độ và khuynh hướng tiêu dùng lại khác nhau đối với từng loại sản phẩm và tùy thuộc vào sự hiểu biết. thói quen tiêu thu của người tiêu dùng đối với từng sản phẩm cụ thể, vì vậy ảnh hưởng khác nhau đến lượng xuất khẩu của từng loại sản phẩm. Hiện nav xu hướng chung trong tiêu thụ hàng thủy sản là hàng thủy sản tươi sống được tiêu thụ mạnh ở khu vực Đông Á (Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông.), trong đó các mặt hàng tôm hùm, cua biển, cá vược, cá chình, sò, mực.
có nhu cầu rất cao. Đồ hộp thủy sản có xu hướng giảm, song tôm hộp, thịt cua hộp, trứng cá hộp lại tăng. + Sự phát triển của ngành công nghiệp thực phẩm chế biến ở nước nhập khẩu: có ảnh hưởng lớn đến lượng nhập khẩu thủy sản của nước đó. Khi ngành công nghiệp chế biến thực phẩm phát triển thường sẽ kéo theo nhu cầu về nguyên liệu đầu vào cao mà trong nhiều trường hợp sản xuất trong nước không đáp ứng đủ.
vì vậy làm tang nhu cầu nhập khẩu. Lay vi du, Tây Ba Nha, Pháp là những nước có số lượng nhà máy chế biến cá đóng hộp và cáẻ loại thủy sản khác nhiều nhất trong khối EU vì thế Tây Ba Nha là nước nhập khẩu thủy sản lớn thứ 3 thế giới, thứ nhất châu Au, có giá trị nhập khẩu hang năm chiếm tới 15,86% giá trị nhập khẩu của toàn EU: Pháp là thị trường nhập khẩu thủy sản lớn thứ 4 thế giới và thứ 2 trong EU. giá trị nhập khẩu thủy sản của Trung Quốc những năm gần đây tăng đột biến do phát triển ồ ạt ngành công nghiệp chế biến và tái chế biến các mặt hàng thủy sản cao cấp như cá philê, cá hộp, các mặt hàng chin ăn liên. Singapo, Thái lan, Hồng Kông là những thị trường nhập khẩu thủy sản rất lớn ở châu Á cũng bởi có công nghiệp chê biến và tái chế biến rất phát triển, ở trình độ cao.
Trên thực tế. những nước này đã thực hiện rất thành công việc chế biến các sản phẩm thủy sản cao cấp phục vụ xuất khẩu. Ngoài các yếu tố chính trên, còn có rất nhiều yếu tố khác ảnh hưởng tới lượng cầu nhập khẩu mat hàng thủy sản như sự phát triển của ngành du lịch. khách sạn, nhà hàng, ngành chăn nuôi tại nước nhập khẩu.
Chẳng hạn, một trong những nguyên nhân của lượng nhập khẩu thủy sản lớn ở Hồng Kông, Pháp, Italia chính là do các nước này ngoài việc cung cấp thủy sản phục vụ cho người dân trong nước còn phải phục vụ thêm hàng chục triệu khách du lịch hàng năm. Yếu tố khác nữa là mức tiêu dùng bình quân đầu người trên thị trường nếu đạt tới độ bão hòa cũng khó làm tăng lượng xuất khẩu. Và, tương quan giữa giá thủy sản với giá các loại thực phẩm khác trong từng thời kỳ cũng là nguyên nhân làm tăng hay giảm lượng nhập khâu. WN - Những yếu tố liên quan đến lượng cung hàng thủy sản bao gồm: + Tình hình nuôi trồng và khai thác thủy sản: tình hình đánh bat thủy sản của thế giới hiện nay ảnh hưởng đến lượng cung thủy sản như sau: sản lượng đánh bắt phụ thuộc vào trữ lượng, công nghệ khai thác.
Tuy nhiên thực tế đang tồn tại những nghịch lý trong điều này ở nhiều nước trên thế giới do hầu hết các nước đều tìm cách khai thác triệt để hoặc khai thác quá mức nguồn lợi thủy sản. Theo đánh giá của FAO, hiện có khoảng 50% nguồn lợi thủy san thế giới đã bị khai thác đến mức tới han.