ĐẶT VẤN ĐỀ Tăng huyết áp được coi là một trong 8 nguyên nhân hàng đầu gây tàn tật và tử vong trên toàn cầu. Tăng huyết áp kéo theo nguy cơ các tình trạng bệnh khác như tim mạch, não, thận và các bệnh khác. Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), có khoảng 1,13 tỉ người mắc tăng huyết áp và ⅔ số đó có mức thu nhập thấp và trung bình [2,109]. Tại Việt Nam, tăng huyết áp là một vấn đề y tế công cộng nằm trong nhóm các bệnh không lây nhiễm được quan tâm hàng đầu.
tỷ lệ mắc là 25,1%. Trong đó, tỉ lệ người tăng huyết áp biết tình trạng bệnh bản thân còn thấp và tỉ lệ được điều trị và kiểm soát tăng huyết áp còn thấp [99]. Việc giảm thiểu tỉ lệ tăng huyết áp có ý nghĩa rất lớn đối với cộng đồng. Nó làm giảm gánh nặng về mặt y tế và các gánh nặng phúc lợi xã hội, giảm tỉ lệ đói nghèo trong cộng đồng.
Đối với người bệnh, giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh sẽ làm gia tăng chất lượng cuộc sống giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch và tử vong [86]. Tăng huyết áp là bệnh mạn tính, quá trình điều trị lâu dài, thậm chí là cả đời, ước tính trên thế giới, tăng huyết áp sẽ tiêu tốn gần 1 nghìn tỷ đô la Mỹ và nếu tăng huyết áp không được điều trị, chi phí có thể lên tới 3,6 nghìn tỷ đô la Mỹ hàng năm [101]. Ở Trung Quốc (2013) thống kê cho thấy chỉ trong 1 năm, chi phí y tế trực tiếp cho tăng huyết áp đã hơn 20 tỷ Nhân dân tệ. Ở Việt Nam, tăng huyết áp đã tạo ra một gánh nặng lớn về kinh tế và xã hội, một số nghiên cứu đánh giá kinh tế đã được thực hiện và đã chỉ ra chi phí - hiệu quả của các can thiệp nhằm quản lý và kiểm soát tăng huyết áp như: Nghiên cứu của Viện Chiến lược và Chính sách Y tế, về phân tích chi phí - Hiệu quả của các can thiệp phòng chống tăng huyết áp tại Việt Namnăm 2011, cho thấy can thiệp dùng thuốc đối với bệnh nhân tăng huyết áp độ I là 195.84 đồng/người/năm; can thiệp điều trị tăng huyết áp độ II và III là 570.609 đồng/người/năm, các can thiệp đều đạt chi phí - hiệu quả.
Nguyễn Thị Phương Lan và cộng sự (2012) nghiên cứu phân tích chi phí - hiệu quả cho khám sàng lọc và quản lý tăng huyết áp trong dự phòng bệnh tim mạch ở Việt Nam cho thấy, khám sàng lọc và quản lý điều trị tăng huyết áp trong vòng 10 năm đạt chi phí 2 - hiệu quả với chi phí/1 QALY là nhỏ hơn 15. Thang Long University Library vii Có rất nhiều yếu tố liên quan đến tình trạng tăng huyết áp đã được thống kê như độ tuổi, tình trạng bệnh kèm theo hoặc giới. Tuy nhiên, một trong những yếu tố khác nữa là thói quen sinh hoạt của người bệnh, và tùy từng vùng mà thói quen cũng thay đổi. Sơn La là một tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam, tăng huyết áp đã là vấn đề y tế công cộng đáng quan tâm, song đến thời điểm này chưa có nghiên cứu nào chỉ ra thực trạng và các yếu tố liên quan đến tăng huyết áp tại thị trấn Ít Ong, huyện Mường La tỉnh Sơn La.
Vì vậy, một số câu hỏi như thực trạng bệnh tăng huyết áp của người dân tại thị trấn Ít Ong, huyện Mường La tỉnh Sơn La như thế nào? Có những yếu tố nào liên quan đến bệnh tăng huyết áp của người dân ở đây?…Để trả lời các câu hỏi đó và nhằm cung cấp bằng chứng cho các nhà quản lý y tế ở địa phương về thực trạng tăng huyết áp và đưa ra những khuyến cáo ban đầu trong việc kiểm soát huyết áp, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan ở người dân từ 18 đến 60 tuổi thị trấn Ít Ong - huyện Mường La, tỉnh Sơn La năm 2020” với 2 mục tiêu Mục tiêu 1: Mô tả thực trạng bệnh tăng huyết áp của người dân từ 18 đến 60 tuổi tại thị trấn Ít Ong - Huyện Mường La, tỉnh Sơn La năm 2020. Mục tiêu 2: Phân tích một số yếu tố liên quan đến tăng huyết áp của người dân được nghiên cứu. Một số khái niệm về huyết áp và tăng huyết áp 1. Một số khái niệm về huyết áp * Huyết áp: Là áp lực máu cần thiết tác động lên thành động mạch nhằm đưa máu đến nuôi dưỡng các mô trong cơ thể.
Huyết áp thể hiện bằng hai chỉ số: (1) huyết áp tâm thu, bình thường từ 90 đến 139 mmHg; (2) huyết áp tối thiểu (huyết áp tâm trương), bình thường từ 60 đến 89 mmHg [84]. Khái niệm tăng huyết áp * Tăng huyết áp: Tăng huyết áp thường không gây triệu chứng gì đặc biệt, do đó để chẩn đoán tăng huyết áp nhất thiết phải đo huyết áp định kỳ, thường xuyên. Theo Cẩm nang Điều trị Nội khoa (Nhà xuất bản Y học), tăng huyết áp là khi: (i) huyết áp đo tại cơ sở y tế ≥ 140/90 mmHg hoặc khi đo tại nhà và khi theo dõi huyết áp lưu động 24 giờ ≥ 135/85 mmHg; hoặc (ii) huyết áp không tăng nhưng có bằng chứng tăng huyết áp như đang dùng thuốc hạ huyết áp hoặc có biến chứng như bệnh tim, tai biến mạch máu não do tăng huyết áp [84]. * Một số định nghĩa tăng huyết áp khác - Tăng huyết áp tâm thu đơn độc Đối với người lớn huyết áp tâm thu có xu hướng tăng và huyết áp tâm trương có xu hướng giảm.
Khi chỉ số của huyết áp tâm thu> 140 mmHg và huyết áp tâm trương< 90 mmHg, bệnh nhân được gọi là tăng huyết áp tâm thu đơn độc. Độ chênh huyết áp (tâm thu – tâm trương) cũng là một yếu tố dự báo nguy cơ quan trọng về tim mạch. - Tăng huyết áp áo choàng trắng và hiệu ứng áo choàng trắng Một số bệnh nhân huyết áp thường xuyên tăng tại bệnh viện hoặc phòng khám của bác sỹ, trong khi huyết áp hàng ngày hoặc đo 24h lại bình thường. Tình trạng này gọi là tăng huyết áp áo choàng trắng, cho dù một thuật ngữ khác ít mang tính cơ chế hơn là tăng huyết áp phòng khám hoặc bệnh viện đơn độc.
* Phân độ tăng huyết áp: Phân độ tăng huyết áp của bệnh nhân theo chỉ số huyết áp tâm thu hoặc huyết áp tâm trương cao hơn. Theo Báo cáo lần thứ 7 Thang Long University Library 2 của Liên Ủy ban Quốc gia về dự phòng, phát hiện, đánh giá và điều trị tăng huyết áp (JNC VII) [98], phân độ tăng huyết áp như sau: Bảng 1. Phân loại tăng huyết áp Huyết áp tâm thu Huyết áp tâm Phân loại (mmHg) trương (mmHg) Huyết áp tối ưu <120 <80 Huyết áp bình 120-139 80-89 thường cao Tăng huyết áp giai 140-159 90-99 đoạn 1 Tăng huyết áp giai ≥160 ≥100 đoạn 2 Nguồn: JNC [98] 3 Bảng 1. Phân loại các mức độ tăng huyết áp của Việt Nam Huyết áp Tâm thu Tâm trương Tối ưu <120 Và <80 Bình thường 120-129 Và/hoặc 80-84 Tiền tăng 130-139 Và/hoặc 85-89 huyết áp Tăng huyết 140-159 Và/hoặc 90-99 áp độ 1 Tăng huyết 160-179 Và/hoặc 100-109 áp độ 2 Tăng huyết ≥180 Và/hoặc ≥110 ápđộ 3 Tăng huyết áp tâm thu đơn ≥140 Và ≤90 độc Nguồn: JNC [98] Các tiêu chuẩn trên chỉ dùng cho những người hiện tại không dùng các thuốc hạ áp và không trong tình trạng bệnh cấp tính.
* Đạt huyết áp mục tiêu: Tăng huyết áp là bệnh phải điều trị liên tục, kéo dài và thậm chí suốt đời, trong quá trình dùng thuốc, chỉ số huyết áp trở về bình thường (<140/90 mmHg) thì được gọi là đạt huyết áp mục tiêu, tuy nhiên đó mới chỉ đạt mục tiêu điều trị, do vậy bệnh nhân không được ngừng điều trị. Thang Long University Library 4 1. Thực trạng bệnh tăng huyết áp trên thế giới và tại Việt Nam 1. Thực trạng tăng huyết áp trên thế giới Trên thế giới tần suất mắc THA vẫn không ngừng gia tăng từng ngày.
Trên toàn cầu hiện có khoảng 1 tỷ người bị THA và dự kiến sẽ tăng lên 1,5 tỷ người vào năm 2025. THA là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong sớm cho khoảng 10 triệu người năm 2015, trong đó 4,9 triệu người do bệnh mạch vành và 3,5 triệu người do đột quỵ. Nó cũng là yếu tố nguy cơ (YTNC) chính của bệnh suy tim , rung nhĩ, bệnh máu ngoại vi, bệnh thận mạn tính. [80] Từ năm 2000, các báo cáo quốc gia đã chỉ ra rằng tỷ lệ tăng huyết áp đang gia tăng ở các nước thu nhập thấp và trung bình, trong khi đó là ổn định hoặc giảm ở các nước thu nhập cao và tăng huyết áp là một thách thức quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng trên toàn thế giới.
Phòng ngừa, phát hiện, điều trị và kiểm soát tình trạng này nên được ưu tiên cao [82]. Tuy nhiên, các ước tính hiện tại về gánh nặng do tăng huyết áp gây nên vẫn là mối quan ngại đối với sức khỏe cộng đồng ở tất cả các khu vực trên thế giới. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hiện nay bệnh tim mạch đang là nguyên nhân hàng đầu của tử vong không những ở các quốc gia đã phát triển mà ngay cả quốc gia đang phát triển. Tử vong do bệnh tim mạch chiếm 1/3 tử vong chung của toàn thế giới (17/50 triệu ca tử vong) trong đó 80% tập trung ở các quốc gia đang phát triển.
Một trong những yếu tố nguy cơ tim mạch chính đã được 5 khẳng định là tăng huyết áp, tỷ lệ tăng huyết áp trên thế giới từ 10- 0% đối với người trên 18 tuổi. Tăng huyết áp đã ảnh hưởng đến một tỷ người trên toàn thế giới, dẫn đến các cơn đau tim và đột quỵ. Các nhà nghiên cứu ước tính rằng huyết áp tăng lên hiện nay giết chết khoảng 9,4 triệu người mỗi năm. Trước sự gia tăng và tác động to lớn của tăng huyết áp, WHO (2013) đã có báo cáo toàn cầu về tăng huyết áp: “Kẻ sát nhân thầm lặng, cuộc khủng hoảng sức khoẻ cộng đồng toàn cầu”, vào đầu thế kỷ 21, tăng huyết áp là một vấn đề y tế công cộng toàn cầu.
Theo đó, người lớn trên thế giới có tỷ lệ tăng huyết áp là 28,5% (27,3- 29,7%) ở các nước thu nhập cao và 31,5% (30,2 - 32,9%) ở các nước thu nhập thấp và trung bình. Từ năm 2000 đến 2010, tỷ lệ tăng huyết 5 ápchuẩn hóa theo tuổi đã giảm 2,6% ở các nước có thu nhập cao nhưng tăng 7,7% ở các nước thu nhập thấp và trung bình.