Luận văn thực trạng tai nạn thương tích nghề nghiệp và một số yếu tố liên quan của ngư dân đánh bắt hải sản xa bờ thị xã cửa lò tỉnh nghệ an năm 2014

Luận văn phân tích thực trạng tai nạn thương tích nghề nghiệp và các yếu tố liên quan của ngư dân đánh bắt hải sản xa bờ tại thị xã Cửa Lò, Nghệ An năm 2014.

Trường đại học

Đại học Y tế Công cộng

Chuyên ngành

Y tế Công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2015

121
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Thực trạng tai nạn thương tích nghề nghiệp của ngư dân đánh bắt xa bờ tại Cửa Lò Nghệ An năm 2014

Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 79 tàu và 319 ngư dân đánh bắt hải sản xa bờ tại thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An năm 2014. Kết quả cho thấy tỷ lệ tai nạn thương tích nghề nghiệp ở ngư dân là 24,1%, trong đó phần lớn là tai nạn nhẹ và vừa (90,9%). Các vụ tai nạn chủ yếu xảy ra trên sàn tàu (80,5%) và khi sử dụng ngư cụ lưới kéo và lưới rê (76,7%). Nguyên nhân hàng đầu gây tai nạn là do dụng cụ lao động, máy móc (45,5%), tiếp theo là trượt ngã (28,6%) và sinh vật biển tấn công (15,6%). Thời gian xảy ra tai nạn chủ yếu vào buổi tối (68,8%). Ngư dân thường xử lý tai nạn theo kinh nghiệm hoặc không xử lý gì (44,2%).

1.1. Điều kiện lao động và an toàn trên tàu

Hầu hết các tàu đánh bắt xa bờ tại Cửa Lò đã đảm bảo một số quy định về an toàn lao động, như sắp xếp dụng cụ gọn gàng (96,2%), bảo vệ máy tời (98,7%), và có hệ thống phao cứu hộ (100%). Tuy nhiên, nhiều tàu vẫn còn thiếu biển báo nguy hiểm (96,2%), tủ thuốc cấp cứu (82,4%), và trang bị bảo hộ lao động như ủng, găng tay (31,6%, 21,5%). Điều kiện làm việc trên tàu còn nhiều rủi ro, đặc biệt là sàn tàu trơn trượt (81%).

1.2. Hậu quả của tai nạn thương tích

Tổng số ngày nghỉ việc do tai nạn thương tích của ngư dân là 863 ngày, trung bình 11,3 ngày cho mỗi trường hợp. Chi phí điều trị chấn thương là 81.000 đồng, trong đó chủ tàu chi trả 94,6%. Tai nạn không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn gây thiệt hại kinh tế đáng kể cho ngư dân và gia đình.

II. Yếu tố liên quan đến tai nạn thương tích nghề nghiệp

Nghiên cứu xác định một số yếu tố liên quan đến tai nạn thương tích nghề nghiệp của ngư dân đánh bắt xa bờ. Ngư dân có trình độ tiểu học trở xuống có nguy cơ bị tai nạn cao gấp 11,5 lần so với ngư dân có trình độ văn hóa cao hơn. Ngư dân có tuổi nghề dưới hoặc bằng 5 năm có nguy cơ cao gấp 7,9 lần so với ngư dân có tuổi nghề trên 5 năm. Ngư dân làm việc trên 8 giờ/ngày có nguy cơ bị tai nạn cao gấp 10,8 lần so với ngư dân làm việc dưới hoặc bằng 8 giờ/ngày.

2.1. Trình độ học vấn và chuyên môn

Trình độ học vấn thấp là một trong những yếu tố quan trọng làm tăng nguy cơ tai nạn. Ngư dân có trình độ tiểu học trở xuống thường thiếu kiến thức về an toàn lao động và kỹ năng xử lý tình huống nguy hiểm, dẫn đến tỷ lệ tai nạn cao hơn.

2.2. Thời gian làm việc và tuổi nghề

Thời gian làm việc kéo dài và tuổi nghề thấp là hai yếu tố làm tăng nguy cơ tai nạn. Ngư dân làm việc trên 8 giờ/ngày thường bị mệt mỏi, giảm khả năng tập trung, dễ dẫn đến sai sót trong quá trình lao động. Ngư dân có tuổi nghề thấp thường thiếu kinh nghiệm và kỹ năng xử lý các tình huống nguy hiểm.

III. Khuyến nghị và giải pháp

Để giảm thiểu tai nạn thương tích nghề nghiệp và nâng cao sức khỏe cho ngư dân, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị. Các chủ tàu cần trang bị đầy đủ tủ thuốc sơ cấp cứu và trang thiết bị bảo hộ lao động. Ngành y tế địa phương cần tổ chức các khóa tập huấn về sơ cấp cứu và an toàn lao động cho ngư dân. Chính quyền địa phương cần xây dựng kế hoạch cụ thể về phòng chống tai nạn và chăm sóc sức khỏe cho ngư dân đánh bắt xa bờ.

3.1. Cải thiện điều kiện làm việc

Cần nâng cao điều kiện làm việc trên tàu bằng cách lắp đặt các biển báo nguy hiểm, cải thiện độ bám của sàn tàu, và cung cấp đầy đủ trang thiết bị bảo hộ lao động. Việc này sẽ giúp giảm thiểu các rủi ro liên quan đến an toàn lao động.

3.2. Đào tạo và nâng cao nhận thức

Tổ chức các khóa đào tạo về an toàn lao động và sơ cấp cứu cho ngư dân là cần thiết. Điều này giúp ngư dân có kiến thức và kỹ năng để xử lý các tình huống nguy hiểm, từ đó giảm thiểu tỷ lệ tai nạn và hậu quả của chúng.

23/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Tai nạn thƣơng tích (TNTT) là một vấn đề y tế công cộng đƣợc toàn thế giới quan tâm. Có rất nhiều ngành, nghề có tỉ lệ TNTT cao trong đó có nghề đi biển [46]. Mặc dù, một số nƣớc phát triển đã có hệ thống chăm sóc sức khỏe cho ngƣ dân. Tuy nhiên, hàng năm có đến hơn 24.000 ngƣ dân trên toàn thế giới bị thƣơng tích gây tử vong hoặc chết đuối trên biển [45], [47].

Ở Việt Nam, mặc dù tại nạn thƣơng tích nghề nghiệp (TNTTNN) là mối quan tâm của toàn xã hội nhƣng số liệu báo cáo các trƣờng hợp TNTTNN chƣa thực sự đầy đủ, chính xác. Hiện nay hệ thống ghi nhận mắc và tử vong do TNTTNN theo quy định tại thông tƣ số 12/2012/BLĐTBXH chủ yếu đƣợc thực hiện với các đối tƣợng có hợp đồng lao động báo cáo từ cơ sở sản xuất cho Bộ lao động - Thƣơng binh và Xã hội. Chỉ có 5- 10% doanh nghiệp báo cáo TNTT và cũng chỉ tập trung vào các doanh nghiệp. Số liệu TNTT trong các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngƣ nghiệp chƣa đƣợc báo cáo, thống kê đầy đủ [1],[2],[4].

Biển Đông là một trong 20 vùng biển có nguồn lợi hải sản cao nhất thế giới, là ngƣ trƣờng lớn của các quốc gia trong khu vực. Khai thác hải sản của ngƣời dân trên các vùng biển, hải đảo đã góp phần rất lớn vào sự phát triển kinh tế biển, đƣa nƣớc ta trở thành một quốc gia biển, mạnh về biển và làm giàu từ biển và bảo vệ chủ quyền trên các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam. Tuy nhiên, những năm gần đây, vấn đề an toàn tàu cá trên biển lại là một trong những nỗi lo của ngƣ dân khi ra khơi, bám biển. Theo thống kê của Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn hàng năm có khoảng 600 vụ TNTT trên biển [23], [24].

Hiện nay, một trong những gánh nặng đối với sức khỏe của lao động đánh bắt hải sản xa bờ (LĐĐBHSXB) đó là vấn đề TNTT [10]. TNTTNN của ngƣ dân đa dạng, phức tạp và do nhiều nguyên nhân nhƣ điều kiện làm việc căng thẳng, các yếu tố tự nhiên khắc nghiệt thay đổi liên tục, rung lắc, trơn trƣợt. Bên cạnh đó, kỹ năng xử lý TNTT của ngƣ dân, điều kiện hỗ trỡ y tế nhanh, tại chỗ còn 2 gặp nhiều khó khăn, bất cập. Trong khi đó hệ thống chăm sóc sức khỏe cho ngƣ dân còn nhiều hạn chế [11] [23] [41].

Thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An có khoảng 1200 lao động và hơn 80 tàu đánh bắt hải sản xa bờ. Những năm gần đây, TNTTNN của ngƣời dân ngày một tăng lên. Theo báo cáo thống kê của Trung tâm Y tế thị xã, trong năm 2013 có 3 trƣờng hợp ngƣ dân đánh bắt hải sản xa bờ tử vong, hơn 170 ngƣ dân bị TNTT, năm 2014 có 6 trƣờng hợp tử vong do tai nạn khi tham gia đánh bắt hải sản trên biển, gần 200 ngƣ dân bị TNTT đƣợc đƣa đến cơ sở y tế để điều trị, chƣa kể đến số ngƣ dân bị tai nạn thƣơng tích mà họ tự điều trị hoặc không điều trị gì. Vấn đề xử lý TNTT của ngƣ dân còn gặp nhiều khó khăn.

Công tác phòng chống TNTT cho ngƣ dân đánh bắt xa bờ còn nhiều hạn chế. Vì vậy, nâng cao công tác phòng chống TNTT cho ngƣ dân là vấn đề cấp thiết cần đƣợc các cấp chính quyền quan tâm [40]. Tại Cửa Lò, Nghệ An chƣa có công trình nghiên cứu về TNTT của ngƣ dân nói chung và ngƣ dân đánh bắt hải sản xa bờ nói riêng. Để đề xuất các biện pháp phòng chống TNTT hiệu quả cũng nhƣ chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho lao động đánh bắt hải sản xa bờ - chúng tôi thực hiện nghiên cứu: Thực trạng tai nạn thương tích nghề nghiệp và một số yếu tố liên quan của ngư dân đánh bắt hải sản xa bờ tại thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An năm 2014.

Mô tả điều kiện làm việc và thực trạng tai nạn thƣơng tích nghề nghiệp của ngƣ dân đánh bắt hải sản xa bờ thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An, năm 2014. Xác định một số yếu tố liên quan đến tai nạn thƣơng tích nghề nghiệp của ngƣ dân đánh bắt hải sản xa bờ thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An năm 2014. 4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm cơ bản [2] [20] [37].

- An toàn nghề nghiệp: an toàn nghề nghiệp là hệ thống các biện pháp về tổ chức và kỹ thuật để đảm bảo những yếu tố nguy hiểm và có hại trong quá trình lao động sản xuất không gây ra ảnh hƣởng xấu tới sức khoẻ ngƣời lao động nhƣ gây TNLĐ hoặc tử vong. - Tai nạn thƣơng tích: + Tai nạn: là một sự kiện xảy ra bất ngờ ngoài ý muốn, do một tác nhân bên ngoài gây nên các tổn thƣơng/thƣơng tích cho cơ thể về thể chất hay tâm hồn của nạn nhân. + Thƣơng tích: là sự tổn thƣơng của cơ thể ở các mức độ khác nhau gây nên, bởi tiếp xúc đột ngột với các nguồn năng lƣợng (có thể là các tác động cơ học, nhiệt, hóa chất, chất phóng xạ.) quá ngƣỡng chịu đựng của cơ thể hoặc do cơ thể thiếu các yếu tố cần thiết cho sự sống nhƣ thiếu ôxy, mất nhiệt…. - Tai nạn thƣơng tích nghề nghiệp (TNTTNN): TNTT nghề nghiệp là tai nạn xảy ra do tác động bởi các yếu tố nguy hiểm, độc hại trong lao động gây tổn thƣơng cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể ngƣời lao động hoặc gây tử vong trong quá trình lao động gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động kể cả trong thời gian khác theo quy định của Bộ luật Lao động nhƣ: nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dƣỡng hiện vật, vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh, thời gian chuẩn bị, kết thúc công việc tại nơi làm việc.

- Số ngƣời bị tai nạn thƣơng tích nghề nghiệp: Là số ngƣời lao động (kể cả học nghề, tập nghề) bị thƣơng tích trong các trƣờng hợp sau: + Bị thƣơng tích trong giờ làm việc tại nơi làm việc kể cả làm việc ngoài giờ do yêu cầu của ngƣời sử dụng lao động. + Bị thƣơng tích ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của ngƣời sử dụng lao động. + Bị thƣơng tích trên tuyến đƣờng đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc. - Tai nạn lao động: Là tai nạn gây tổn thƣơng cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể ngƣời lao động hoặc gây tử vong, bao gồm: 5 + Tai nạn lao động xảy ra trong quá trình lao động gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động.

+ Tai nạn lao động xảy ra trong quá trình thực hiện công việc, nhiệm vụ khác theo sự phân công của ngƣời sử dụng lao động hoặc ngƣời đƣợc ngƣời sử dụng lao động ủy quyền bằng văn bản trực tiếp quản lý lao động. + Tai nạn lao động xảy ra đối với ngƣời lao động khi đang thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cần thiết mà Bộ luật Lao động và nội quy của cơ sở cho phép (nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dƣỡng hiện vật, làm vệ sinh kinh nguyệt, cho con bú, tắm rửa, đi vệ sinh). - Phân loại tai tai nạn lao động (Phân loại theo mức độ trầm trọng của thƣơng tích). + Tai nạn lao động chết ngƣời: Là tai nạn mà ngƣời bị nạn chết ngay tại nơi xảy ra tai nạn hoặc chết trên đƣờng đi cấp cứu; chết trong thời gian cấp cứu; chết trong thời gian đang điều trị; chết do tái phát của chính vết thƣơng do tai nạn lao động ra (theo kết luận tại biên bản khám nghiệm pháp y).

+ Tai nạn lao động nặng: Là tai nạn mà ngƣời bị nạn bị ít nhất một trong những chấn thƣơng đƣợc quy định tại phụ lục số 01 Thông tƣ liên tịch số 12/2012/TTLT- BLĐ - TBXH-BYT ngày 21 tháng 5 năm 2012: Hƣớng dẫn việc khai báo, điều tra, thống kê và báo cáo tai nạn lao động. + Tai nạn lao động nhẹ: Ngƣời bị tai nạn không thuộc 2 loại nói trên. - Số vụ tai nạn lao động: Là số trƣờng hợp sự cố lao động xảy ra có ngƣời bị tai nạn lao động hoặc bị tổn hại tài sản, vật chất sản xuất. - Điều kiện lao động: Điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố kỷ thuật, tổ chức lao đông, kinh tế, xã hội, tự nhiên, môi trƣờng và văn hóa xung quanh con ngƣời nơi làm việc.

Điều kiện lao động thể hiện qua quá trình công nghệ, công cụ lao động, đối tƣợng lao động, năng lực của ngƣời lao động và sự tác động qua lại giữa các yếu tố trên tạo nên điều kiện làm việc của con ngƣời trong quá trình lao động sản xuất. - Các yếu tố nguy cơ gây tai nạn lao động 6 + Nhóm các yếu tố cơ học: Các bộ phận, cơ cấu truyền động, chuyển động quay và tịnh tiến tốc độ lớn, các mảnh văng của dụng cụ hoặc vật liệu gia công, các vật rơi từ trên cao, sự sập gãy hay sụt lở công trình, trơn trƣợt ngã v. + Nhóm các yếu tố về điện: Điện giật, bỏng điện, chập cháy nổ do điện, sét đánh + Nhóm các yếu tố hóa học: Các chất gây nhiễm độc cấp tính, ví dụ khí axit nhƣ SO2, SO3, các oxit cacbon CO và CO2; oxit nitơ NO2; hydrosunfua H2S; các hóa chất bảo vệ thực vật, các loại hóa chất độc hại khác nằm trong danh mục phải khai báo đăng ký, hoặc bỏng hóa chất (độ 2, độ 3). + Nhóm các yếu tố gây nổ: nổ hóa học (nổ cháy xăng dầu, khí đốt, thuốc nổ .); nổ vật lý (nổ nồi hơi, bình khí nén.

+ Nhóm yếu tố về nhiệt: Các môi chất truyền nhiệt thể lỏng, hơi, khí, rắn có thể gây bỏng (nóng hoặc lạnh); gây cháy do ngọn lửa, tia lửa, vật nung nóng-nấu chảy, hơi khí xả nóng v. Trong nghiên cứu này chúng tôi dùng khái niệm tai nạn thƣơng tích nghề nghiệp. Lƣợt tai nạn thƣơng tích nghề nghiệp trong nghiên cứu: Là số các trƣờng hợp bị TNTT theo định nghĩa tai nạn thƣơng tích nghề nghiệp ở trên trong thời gian từ 01/01/2014 đến 31/12/2014. Tổng quan tai nạn thƣơng tích nghề nghiệp 1.

Tình hình tai nạn thƣơng tích nghề nghiệp trên thế giới. TNTT hiện nay thực sự là vấn đề Y tế công cộng toàn cầu. Theo số liệu thống kê của WHO trong những năm gần đây: tỷ lệ các bệnh truyền nhiễm có xu hƣớng thuyên giảm, nhƣng tỷ lệ mắc và tử vong do TNTT có xu hƣớng gia tăng. Mỗi ngày trên thế giới có khoảng 16.000 ngƣời chết vì các loại TNTT.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Thực trạng tai nạn thương tích nghề nghiệp và yếu tố liên quan của ngư dân đánh bắt xa bờ tại Cửa Lò, Nghệ An 2014 là một nghiên cứu quan trọng, tập trung vào tình hình tai nạn lao động và các yếu tố ảnh hưởng đến sự an toàn của ngư dân đánh bắt xa bờ. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực trạng mà còn đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro, nâng cao điều kiện làm việc cho ngư dân. Đây là tài liệu hữu ích cho các nhà quản lý, chính sách và những người quan tâm đến an toàn lao động trong ngành thủy sản.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến quản lý và cải thiện điều kiện làm việc, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của công chức tại cục thuế tỉnh đồng tháp, nghiên cứu này phân tích các yếu tố tác động đến hiệu suất và sự hài lòng trong công việc. Ngoài ra, Luận án ts chất lượng dịch vụ hành chính công trên địa bàn thành phố hà nội cung cấp góc nhìn về cải thiện chất lượng dịch vụ công, một yếu tố quan trọng trong quản lý nhà nước. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dân khi sử dụng dịch vụ công trực tuyến trên địa bàn tỉnh khánh hòa giúp hiểu rõ hơn về sự hài lòng của người dân với dịch vụ công, một khía cạnh không thể bỏ qua trong quản lý hiệu quả.