Tổng quan nghiên cứu

Tai nạn thương tích nghề nghiệp trong lĩnh vực khai thác thủy hải sản là một thách thức y tế công cộng nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu. Theo ước tính từ Tổ chức Y tế Thế giới và Tổ chức Lao động Quốc tế, mỗi năm có hơn 24.000 ngư dân tử vong hoặc mất tích trên biển, tương đương trung bình 70 vụ tai nạn gây chết người mỗi ngày. Tại Việt Nam, với hơn 3.260 km bờ biển và lực lượng lao động trực tiếp trên biển vượt mốc 850.000 người, công tác bảo đảm an toàn lao động đối mặt với nhiều áp lực lớn khi mỗi năm ghi nhận khoảng 600 vụ tai nạn tàu cá. Riêng tại thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An, nơi tập trung hơn 80 tàu đánh bắt xa bờ và khoảng 1.200 lao động chuyên nghiệp, thống kê y tế năm 2014 ghi nhận 6 trường hợp tử vong và gần 200 ngư dân phải nhập viện điều trị do chấn thương trong quá trình đánh bắt.

Trước thực trạng cấp bách đó, luận văn Thạc sĩ Y tế công cộng của tác giả Nguyễn Thị Giang thực hiện đề tài "Thực trạng tai nạn thương tích nghề nghiệp và một số yếu tố liên quan của ngư dân đánh bắt hải sản xa bờ thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An năm 2014" nhằm đạt hai mục tiêu trọng tâm: mô tả điều kiện lao động cùng thực trạng tai nạn thương tích nghề nghiệp, đồng thời xác định các yếu tố liên quan trực tiếp đến rủi ro chấn thương của ngư dân. Nghiên cứu được triển khai thu thập dữ liệu thực địa từ tháng 2/2015 đến tháng 8/2015 đối với các hoạt động khai thác trong năm 2014. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp cơ sở dữ liệu dịch tễ học tin cậy, đóng góp vào việc thực thi Quyết định số 317/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Đề án phát triển y tế biển đảo đến năm 2020, hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế biển bền vững đóng góp 53% đến 55% GDP quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng mô hình Ma trận Haddon do William Haddon khởi xướng từ những năm 1960 kết hợp với lý thuyết Dịch tễ học chấn thương trong Y tế công cộng. Ma trận Haddon cho phép phân tích toàn diện sự tương tác đa chiều giữa ba nhóm yếu tố cốt lõi bao gồm con người (vật chủ như thể lực, hành vi, tuổi nghề), thiết bị phương tiện (tác nhân như máy tời, lưới kéo, kết cấu tàu cá) và môi trường lao động (sóng gió, bóng đêm, độ trơn trượt của sàn tàu) xuyên suốt ba giai đoạn: trước khi xảy ra tai nạn, tại thời điểm xảy ra tai nạn và sau khi chấn thương xuất hiện.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp các khái niệm học thuật chuẩn mực về an toàn nghề nghiệp, tai nạn thương tích nghề nghiệp và điều kiện lao động theo Thông tư liên tịch số 12/2012/TTLT-BLĐTBXH-BYT. Nghề khai thác thủy hải sản xa bờ được nhìn nhận dưới lăng kính của các quy chuẩn bảo hộ lao động đặc biệt, thuộc danh mục nghề nặng nhọc, độc hại loại V theo Quyết định số 1152/LĐTBXH và loại VI theo Thông tư số 36/2012/TT-BLĐTBXH. Các biến số quan sát được xây dựng bám sát Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN 02/2012/BNNPTNT về an toàn kỹ thuật tàu cá nhằm lượng hóa rủi ro và các tiêu chuẩn kiểm định an toàn vệ sinh lao động trên biển.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích kết hợp kỹ thuật hồi cứu số liệu thứ cấp từ hệ thống sổ sách của Trung tâm Y tế và các trạm y tế phường tại thị xã Cửa Lò. Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định theo công thức ước tính một tỷ lệ trong quần thể với mức ý nghĩa thống kê 95% (hệ số tin cậy Z = 1,96), độ chính xác tuyệt đối d = 0,05 và tỷ lệ tai nạn thương tích tham chiếu p = 54,5% từ một nghiên cứu tại Quảng Ninh, xác lập cỡ mẫu lý thuyết là 381 đối tượng.

Quy trình chọn mẫu được thực hiện theo phương pháp chọn mẫu hệ thống ngẫu nhiên qua ba bước: lập danh sách toàn bộ 1.320 ngư dân làm việc trên 80 tàu đánh bắt xa bờ (công suất trên 50 CV, hoạt động ngoài 24 hải lý), xác định khoảng cách chọn mẫu k = 3 (1.320 chia cho 381) và rút thăm ngẫu nhiên đối tượng đầu tiên để chọn đủ mẫu. Kết quả thực địa thu được 319 phiếu phỏng vấn hợp lệ từ ngư dân (đạt tỷ lệ phản hồi 84,0%) và khảo sát trực tiếp điều kiện an toàn trên 79 tàu cá bằng bảng kiểm chuẩn hóa dựa trên Thông tư số 25/2014/TT-BNNPTNT. Dữ liệu được làm sạch và phân tích bằng các thuật toán thống kê y học chuyên sâu; trong đó mô hình hồi quy đa biến Logistic được lựa chọn nhằm kiểm soát các yếu tố gây nhiễu, xác định chính xác tỷ suất chênh điều chỉnh (OR) và khoảng tin cậy 95% của các yếu tố nguy cơ độc lập trong khoảng thời gian khảo sát từ tháng 2/2015 đến tháng 8/2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa ghi nhận tỷ lệ tai nạn thương tích nghề nghiệp ở ngư dân đánh bắt hải sản xa bờ tại Cửa Lò trong năm 2014 là 24,1% (77 trên tổng số 319 đối tượng). Về mức độ tổn thương, các trường hợp chấn thương nhẹ và vừa chiếm áp đảo với 90,9%, trong khi thương tích nặng chiếm 9,1%. Xét theo chức danh chuyên môn, thuyền viên trực tiếp thao tác là nhóm chịu rủi ro cao nhất, chiếm 89,6% tổng số ca tai nạn. Vị trí xảy ra sự cố tập trung chủ yếu trên sàn và boong tàu với tỷ lệ 80,5%, tiếp theo là khu vực buồng máy và thành tàu. Xét theo loại hình ngư cụ, các đội tàu sử dụng lưới kéo và lưới rê ghi nhận tỷ lệ tai nạn thương tích cao nhất, chiếm 76,7% tổng số trường hợp.

Về nguyên nhân trực tiếp, chấn thương do tiếp xúc với dụng cụ lao động và máy tời chiếm tỷ trọng lớn nhất với 45,5%, trượt ngã trên sàn tàu chiếm 28,6% và bị sinh vật biển có độc hoặc gai nhọn tấn công chiếm 15,6%. Thời điểm xảy ra sự cố tập trung dày đặc vào ban đêm và buổi tối với 68,8% số vụ. Về phương diện kinh tế và y tế, các vụ tai nạn đã làm tiêu hao tổng cộng 863 ngày làm việc, bình quân mỗi ngư dân bị nạn phải nghỉ 11,3 ngày để hồi phục; tổng chi phí điều trị phát sinh là 81 triệu đồng, trong đó các chủ tàu cá phải trực tiếp chi trả tới 94,6%. Đáng chú ý, 81,0% số tàu được khảo sát có sàn boong trơn trượt, 96,2% tàu thiếu biển cảnh báo nguy hiểm, 82,4% tàu không trang bị đủ tủ thuốc cấp cứu và 58,2% thuyền viên không có đầy đủ quần áo bảo hộ lao động cá nhân.

Thảo luận kết quả

Thực trạng 81,0% tàu cá để mặt sàn trơn trượt kết hợp với 68,8% ca tai nạn xảy ra vào ban đêm giải thích rõ nét cơ chế phát sinh chấn thương trên biển. Khi làm việc trong điều kiện vi khí hậu khắc nghiệt, sóng gió rung lắc và thiếu ánh sáng, thị lực của ngư dân suy giảm đáng kể (tỷ lệ giảm thị lực sau chuyến biển tăng từ 20,4% lên 27,5%), dẫn đến các thao tác kéo lưới và vận hành máy móc dễ mất kiểm soát. Tỷ lệ tai nạn 24,1% tại Cửa Lò tương đương với phát hiện của Frantzeskou tại Hy Lạp (28,0%), song thấp hơn tỷ lệ 54,5% từng ghi nhận tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh do sự khác biệt về đặc tính ngư trường và cơ cấu công nghệ khai thác.

Phân tích hồi quy đa biến khẳng định ba yếu tố liên quan mật thiết đến rủi ro tai nạn thương tích. Thứ nhất, ngư dân có trình độ học vấn từ tiểu học trở xuống có nguy cơ bị tai nạn cao gấp 11,5 lần (OR = 11,5) so với nhóm có học vấn cao hơn. Thứ hai, những lao động có thâm niên nghề dưới hoặc bằng 5 năm đối mặt với nguy cơ chấn thương cao gấp 7,9 lần (OR = 7,9) so với những người có trên 5 năm kinh nghiệm. Thứ ba, thời gian làm việc vượt quá 8 giờ mỗi ngày làm tăng nguy cơ tai nạn lên 10,8 lần (OR = 10,8). Đặc biệt, việc 44,2% ngư dân tự xử lý vết thương theo kinh nghiệm dân gian hoặc không can thiệp y tế phản ánh khoảng trống nghiêm trọng trong kỹ năng sơ cứu tại chỗ. Các dữ liệu dịch tễ học và biến số nguy cơ này có thể được mô hình hóa trực quan qua bảng ma trận đa biến và biểu đồ phân tầng tỷ lệ chênh OR, giúp các cơ quan quản lý dễ dàng xác định trọng tâm can thiệp kỹ thuật.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giảm thiểu tai nạn thương tích nghề nghiệp và bảo vệ sức khỏe cho ngư dân đánh bắt xa bờ, bốn nhóm giải pháp hành động cụ thể được đề xuất:

Thứ nhất, kiểm định kỹ thuật và chuẩn hóa 100% trang thiết bị sơ cấp cứu trên toàn bộ 80 tàu cá xa bờ. Chủ tàu thuyền phối hợp cùng Ban quản lý cảng cá Cửa Lò triển khai lắp đặt tủ thuốc thiết yếu theo quy chuẩn QCVN 02/2012/BNNPTNT, bổ sung nẹp cố định, băng gạc vô trùng và thuốc chống dị ứng sinh vật biển, hoàn thành trong vòng 3 tháng đầu năm nhằm hạ thấp 50% tỷ lệ biến chứng chấn thương do xử lý sai cách.

Thứ hai, tổ chức định kỳ các khóa tập huấn kỹ năng an toàn lao động và sơ cấp cứu ban đầu cho 100% thuyền viên (khoảng 1.200 lao động). Trung tâm Y tế thị xã Cửa Lò phối hợp với Chi cục Thủy sản Nghệ An và các Trạm y tế xã phường tổ chức đào tạo thực hành xử lý vết thương, hô hấp nhân tạo và cứu đuối nước với tần suất 12 tháng một lần, hướng tới mục tiêu giảm 40% các vụ tai nạn xuất phát từ lỗi thao tác cá nhân.

Thứ ba, cải tạo cấu trúc an toàn vật lý trên tàu và lắp đặt hệ thống chống trơn trượt. Các chủ tàu cá cần chủ động sơn phủ vật liệu chống trượt trên boong tàu, bổ sung lưới chắn bảo vệ máy tời mô tô và gắn biển cảnh báo dạ quang tại các khu vực nguy hiểm, hoàn thành kiểm tra định kỳ 6 tháng một lần để cắt giảm 60% nguy cơ trượt ngã và cuốn kẹt tay chân.

Thứ tư, điều chỉnh thời gian lao động hợp lý và trang bị đầy đủ bảo hộ cá nhân đạt chuẩn. Nghiệp đoàn nghề cá và Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã Cửa Lò thiết lập quy chế ca kíp không vượt quá 8 giờ làm việc liên tục mỗi ngày, đồng thời giám sát việc cung cấp đủ 100% ủng cao su bám dính, găng tay chống cắt và áo phao chuyên dụng, phấn đấu đưa tỷ lệ tai nạn thương tích chung của thị xã xuống dưới 15% trong vòng 12 tháng tới.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn cung cấp nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn giá trị cho bốn nhóm độc giả chuyên ngành:

Nhóm thứ nhất là cán bộ quản lý y tế công cộng và y tế dự phòng tuyến cơ sở. Tài liệu cung cấp bức tranh dịch tễ học chi tiết với tỷ lệ 24,1% chấn thương cùng danh mục bệnh nghề nghiệp thực tế, hỗ trợ đắc lực cho việc xây dựng trạm cấp cứu y tế biển đảo và hoàn thiện tiêu chí giám sát tai nạn lao động theo khung chính sách quốc gia.

Nhóm thứ hai là các chủ phương tiện tàu cá và ban lãnh đạo các nghiệp đoàn nghề cá. Nguồn số liệu chứng minh mức thiệt hại 863 ngày công và 81 triệu đồng chi phí y tế giúp chủ tàu nhận thức rõ lợi ích kinh tế của việc đầu tư trang bị bảo hộ, lắp đặt tủ thuốc và bố trí ca kíp làm việc khoa học cho đội ngũ 79 tàu cá xa bờ.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên sau đại học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Y tế công cộng, Y học lao động và Dịch tễ học. Công trình là bài mẫu điển hình về việc ứng dụng mô hình Ma trận Haddon kết hợp hồi quy Logistic đa biến trên cỡ mẫu 319 đối tượng thực địa, phục vụ giảng dạy và nghiên cứu phương pháp luận.

Nhóm thứ tư là các cơ quan hoạch định chính sách an sinh xã hội và các công ty bảo hiểm hàng hải. Kết quả nghiên cứu về tỷ lệ chủ tàu chi trả 94,6% chi phí điều trị là căn cứ thực tiễn để thiết kế các gói bảo hiểm tai nạn thuyền viên phù hợp, bảo vệ quyền lợi cho hơn 850.000 lao động biển Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ tai nạn thương tích nghề nghiệp của ngư dân đánh bắt hải sản xa bờ tại Cửa Lò là bao nhiêu? Khảo sát thực địa trên 319 ngư dân tại 79 tàu cá xa bờ năm 2014 ghi nhận tỷ lệ tai nạn thương tích nghề nghiệp là 24,1%. Trong đó, các tổn thương mức độ nhẹ và vừa chiếm áp đảo với 90,9%, xảy ra tập trung ở nhóm thuyền viên trực tiếp vận hành trên boong tàu chiếm 89,6%.

Những nguyên nhân chính nào gây ra tai nạn thương tích cho ngư dân đi biển? Nguyên nhân hàng đầu là do va chạm dụng cụ lao động và cuốn kẹt máy móc chiếm 45,5%, tiếp theo là trượt ngã trên sàn boong ẩm ướt chiếm 28,6% và sinh vật biển tấn công chiếm 15,6%. Đáng chú ý, có tới 68,8% tổng số vụ tai nạn xảy ra trong các ca làm việc vào ban đêm.

Những yếu tố nguy cơ nào làm gia tăng khả năng bị tai nạn thương tích của ngư dân? Mô hình hồi quy Logistic xác định ba yếu tố nguy cơ chính: trình độ học vấn từ tiểu học trở xuống làm tăng nguy cơ tai nạn lên 11,5 lần, thời lượng làm việc trên 8 giờ mỗi ngày làm tăng nguy cơ lên 10,8 lần, và thâm niên nghề dưới hoặc bằng 5 năm làm tăng nguy cơ gấp 7,9 lần.

Thực trạng sơ cứu ban đầu và chi phí y tế điều trị tai nạn trên tàu diễn ra như thế nào? Có tới 82,4% tàu cá thiếu tủ thuốc cấp cứu tiêu chuẩn, khiến 44,2% ca tai nạn phải tự xử lý theo kinh nghiệm dân gian hoặc không can thiệp. Tổng chi phí điều trị y tế ghi nhận là 81 triệu đồng với mức nghỉ việc bình quân 11,3 ngày mỗi vụ, trong đó chủ tàu chi trả 94,6%.

Luận văn đã áp dụng mô hình lý thuyết và phương pháp chọn mẫu nào để bảo đảm tính khoa học? Đề tài áp dụng Ma trận Haddon trong phân tích dịch tễ chấn thương qua ba giai đoạn thời gian và ba nhóm yếu tố tương tác. Phương pháp chọn mẫu hệ thống ngẫu nhiên với khoảng cách mẫu k = 3 từ danh sách 1.320 ngư dân đã bảo đảm tính đại diện cao cho mẫu nghiên cứu.

Kết luận

  • Luận văn xác định tỷ lệ tai nạn thương tích nghề nghiệp ở ngư dân đánh bắt xa bờ tại thị xã Cửa Lò năm 2014 ở mức cao là 24,1%, tập trung chủ yếu trên sàn boong tàu (80,5%) và xảy ra nhiều vào ban đêm (68,8%).
  • Mô hình hồi quy khẳng định ba yếu tố nguy cơ độc lập hàng đầu gồm: trình độ học vấn tiểu học trở xuống (OR = 11,5), thời gian lao động vượt quá 8 giờ/ngày (OR = 10,8) và thâm niên nghề non trẻ từ 5 năm trở xuống (OR = 7,9).
  • Nghiên cứu chỉ ra những lỗ hổng nghiêm trọng về an toàn tàu cá tại địa phương: 81,0% tàu có sàn trơn trượt, 82,4% tàu thiếu tủ thuốc cấp cứu và 44,2% ngư dân tự xử lý vết thương theo kinh nghiệm dân gian.
  • Thiệt hại do tai nạn gây tiêu hao 863 ngày công lao động và 81 triệu đồng chi phí y tế, tạo gánh nặng tài chính lớn trực tiếp lên các chủ phương tiện và làm suy giảm sinh kế gia đình ngư dân.
  • Công trình cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc phục vụ việc hoạch định chính sách an toàn vệ sinh lao động biển và triển khai Đề án Y tế biển đảo theo Quyết định số 317/QĐ-TTg.

Các cấp chính quyền, ngành y tế dự phòng và cộng đồng chủ tàu cá cần nhanh chóng triển khai chương trình can thiệp đồng bộ từ quý tới, tập trung vào huấn luyện sơ cứu định kỳ 12 tháng/lần và chuẩn hóa tủ thuốc tàu cá. Hãy chung tay hành động vì một môi trường lao động an toàn, bảo vệ sức khỏe và tính mạng cho ngư dân vững tâm vươn khơi bám biển!