Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm Định nghĩa chấn thương Chấn thương là bất cứ tổn thương có chủ định hay không có chủ định cho cơ thể người được gây nên bởi sự phơi nhiễm cấp tính đối với năng lượng nhiệt, cơ học, điện hay năng lượng hóa học, hay bởi sự thiếu vắng của các yếu tố thiết yếu như sức nóng hay ôxy [22]. Định nghĩa chấn thương do lao động Theo Tổ chức Lao động quốc tế, chấn thương do lao động hay còn gọi là tai nạn lao động là một sự xuất hiện bất ngờ và không có kế hoạch, bao gồm các hành vi bạo lực, phát sinh từ bên ngoài hoặc bên trong có liên quan đến công việc mà kết quả là một hoặc nhiều công nhân bị chấn thương, bệnh tật hoặc tử vong. Các trường hợp tai nạn được coi là chấn thương do lao động như: xảy ra khi đi du lịch, khi tham gia giao thông, những hoạt động này có liên quan đến quá trình làm việc, tại nơi làm việc hoặc trên đường đi làm [31].
Theo Luật An toàn vệ sinh lao động năm 2015, tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động [19]. Như vậy, định nghĩa về chấn thương do lao động hay còn gọi là TNLĐ của Tổ chức Lao động quốc tế và Luật An toàn vệ sinh lao động năm 2015 đều giống nhau là tai nạn có liên quan đến quá trình làm việc, thực hiện công việc và kết quả là gây tổn thương hoặc tử vong cho người lao động. Phân loại tai nạn lao động Phân loại TNLĐ theo Nghị định 39/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 của Thủ tướng Chính phủ như sau [7]: 5 a. Tai nạn lao động làm chết người lao động là tai nạn lao động mà người lao động bị chết thuộc một trong các trường hợp sau đây: Chết tại nơi xảy ra tai nạn; Chết trên đường đi cấp cứu hoặc trong thời gian cấp cứu; Chết trong thời gian điều trị hoặc chết do tái phát của vết thương do tai nạn lao động gây ra theo kết luận tại biên bản giám định pháp y; Người lao động được tuyên bố chết theo kết luận của Tòa án đối với trường hợp mất tích.
Tai nạn lao động làm người lao động bị thương nặng là tai nạn lao động làm người lao động bị ít nhất một trong những chấn thương được quy định tại Phụ lục 6. Tai nạn lao động làm người lao động bị thương nhẹ là tai nạn lao động không thuộc trường hợp quy định tại 1 trong 2 loại TNLĐ trên. An toàn lao động là giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố nguy hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao động [19]. Vệ sinh lao động là giải pháp phòng, chống tác động của yếu tố có hại gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe cho con người trong quá trình lao động [19].
Yếu tố nguy hiểm là yếu tố gây mất an toàn, làm tổn thương hoặc gây tử vong cho con người trong quá trình lao động [19]. Phương tiện bảo vệ cá nhân: Phương tiện bảo vệ cá nhân là những dụng cụ, phương tiện cần thiết mà người lao động phải được trang bị để sử dụng trong khi làm việc hoặc thực hiện nhiệm vụ để bảo vệ cơ thể khỏi tác động của các yếu tố nguy hiểm, độc hại phát sinh trong quá trình lao động, khi các giải pháp công nghệ, thiết bị, kỹ thuật an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc chưa thể loại trừ hết [3]. Làng nghề: là một thực thể vật chất và tinh thần được tồn tại cố định về mặt địa lý, ổn định về nghề nghiệp hay một nhóm các nghề có mối liên hệ mật thiết với nhau để làm ra một sản phẩm, có bề dày lịch sử và được tồn tại lưu truyền trong dân gian [15]. Tình hình tai nạn lao động tại Việt Nam và trên thế giới 1.
Tình hình TNLĐ trên thế giới Phát biểu của Giám đốc Tổ chức Lao động quốc tế nhân ngày Thế giới về An toàn và Vệ sinh tại nơi làm việc năm 2013, hàng năm có khoảng 337 triệu vụ tai nạn lao động xảy ra trên thế giới và 2,34 triệu người lao động chết do TNLĐ bệnh liên quan đến lao động. Mỗi ngày, trung bình hơn 6.300 người chết và 860.000 người bị thương do TNLĐ hoặc bệnh nghề nghiệp liên quan, trong đó 2,02 triệu người chết do các bệnh liên quan đến nghề nghiệp và 321.000 người chết do TNLĐ [26]. Theo báo cáo của Paivi Hamalainen và cộng sự về Ước tính toàn cầu về tai nạn lao động và các bệnh liên quan đến nghề nghiệp năm 2017 cho thấy, đã có 380.500 người tử vong do tai nạn lao động, tăng 8% vào năm 2014 so với năm 2010, ước tính có 1.000 người chết do tai nạn lao động mỗi ngày. Tỷ lệ tai nạn lao động chết người đã tăng nhẹ.
Số vụ tai nạn lao động không gây tử vong ước đạt 374 triệu người, tăng đáng kể so với năm 2010. Lý do chính là ước tính báo cáo cao hơn được sử dụng so với ước tính trước. Châu Á đóng góp nhiều nhất và chiếm khoảng 2/3 tổng số tử vong liên quan đến lao động toàn cầu, tiếp theo là Châu Phi ở mức 11,8% và Châu Âu là 11,7% [27]. Kết quả nghiên cứu về tác động đến sức khoẻ của nguy cơ nghề nghiệp trong khu vực kinh tế phi kết cấu ở Zimbabwe của Rene Loewenson năm 1998 cho thấy, tỷ lệ TNLĐ trong khu vực kinh tế kết cấu là 131/ 1.000 người lao động,cao hơn so với trong khu vực chính thức 10 lần, trong đó, 24,8/1.000 người lao động bị tai nạn lao động dẫn đến một số dạng tàn tật vĩnh viễn và nguy cơ bị TNLĐ do máy sản xuất chiếm tỷ lệ cao nhất 207/1.000 người lao động [35].
Tình hình TNLĐ tại Việt Nam Tai nạn lao động ở nước ta đang trở thành mối lo ngại của toàn xã hội trong lĩnh vực lao động. Tỷ lệ lao động bị TNLĐ không thuyên giảm, trong khi đó, số vụ TNLĐ làm chết người lại ngày càng gia tăng, là vấn đề cần được quan tâm của Y tế công cộng. Hàng năm, theo số liệu thống kê của Sở LĐ-TB&XH các địa phương thì chỉ có khoảng 7 500 đến 600 người chết vì tai nạn lao động, nhưng thống kê từ một vài bệnh viện lớn, thì năm 2008, số người bị tai nạn lao động đưa đến cấp cứu và chết ngay tại bệnh viện đã lên tới gần 1. Ngoài ra, khi so sánh, đối chiếu số liệu về những người được hưởng chế độ BHXH về TNLĐ phát sinh mới hàng năm thường cao hơn số liệu do Bộ LĐ- TB&XH tổng hợp từ các báo cáo của các địa phương [9].
Tổng hợp tình hình TNLĐ từ năm 2010-2015 [9] Năm Tổng Số vụ Số vụ có từ Số người Số người bị Nạn nhân là số vụ chết 2 người trở chết thương lao động nữ lên 2010 5125 554 105 601 1260 944 2011 5896 504 90 574 1314 1363 2012 6777 552 95 606 1470 1842 1013 6695 562 113 627 1506 2308 2014 6709 592 166 630 1544 2136 2015 7620 629 79 666 1704 2432 Qua số liệu theo dõi về tình hình TNLĐ từ năm 2010 – 2015 cho thấy, các vụ TNLĐ tăng lên qua từng năm và số người chết và số người bị thương cũng tăng theo. Theo Ước tính toàn cầu về tai nạn lao động công bố năm 2005 của Paivi Hamalainen và cộng sự cho thấy, mỗi năm Việt Nam có gần 10 nghìn trường hợp tử vong do TNLĐ với tỷ lệ 27/100.000 người lao động và có khoảng trên 7 nghìn trường hợp TNLĐ phải nghỉ việc nhỏ hơn 3 ngày với tỷ lệ là 20,605/ 100.000 người lao động [28]. Tai nạn lao động khu vực làng nghề và làng nghề mộc * TNLĐ khu vực làng nghề Trong nhiều năm qua, việc thống kê và báo cáo công tác AT,VSLĐ và tình hình TNLĐ ở các doanh nghiệp, cơ sở thực hiện chưa tốt. Các cơ quan quản lý nhà nước về AT,VSLĐ không có được con số thống kê chính xác về tai nạn lao động (kể cả tai nạn lao 8 động chết người) trong khu vực kinh tế tư nhân và các hộ sản xuất cá thể.
Thực tế, hầu hết các cơ sở không có sổ sách theo dõi, thống kê tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và không thực hiện nghiêm túc chế độ khai báo điều tra khi xảy ra tai nạn lao động, kể cả tai nạn lao động chết người. Việc quản lý AT,VSLĐ ở khu vực này cho đến nay còn bị bỏ ngỏ. Chưa có một cơ quan nào chịu trách nhiệm chính quản lý khu vực này nói chung và về AT,VSLĐ nói riêng. Tuy nhiên, tình trạng TNLĐ tại các làng nghề thường xuyên xảy ra do nhiều lý do: xưởng sản xuất gây tiếng ồn, bụi, khí thải độc hại; nguy cơ rủi ro, mất an toàn lớn, chủ cơ sở sản xuất không quan tâm đến việc trang bị phương tiện bảo hộ cho người lao động, ý thức chấp hành kỷ luât lao động kém [9].
Theo báo cáo chưa đầy đủ của các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy, vấn đề tai nạn lao động trong sản xuất nông nghiệp và ngành nghề nông thôn có xu hướng gia tăng [10]. Báo cáo tổng kết của Chương trình quốc gia về AT,VSLĐ, giai đoạn 2011-2015 đã có 3.676 nông dân, 187 ngư dân, thủy thủ bị tử vong do tai nạn lao động và con số này gia tăng qua các năm [9]. Nghiên cứu của Dương Danh Mạnh (2007) về “Tình hình tai nạn lao động và một số yếu tố liên quan tại các cơ sở cô đúc nhôm huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh” được tiến hành ở 258 người lao động làm nghề cô đúc nhôm, phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra được tỷ lệ TNLĐ là 19% và một số thông tin về TNLĐ như: thời điểm xảy ra TNLĐ là buổi sáng chiếm 87,8%, vị trí chấn thương ở chi dưới chiếm 47%, ở thân mình là 31%, tác nhân gây chấn thương chủ yếu là bỏng nhôm và vật sắc nhọn, mức độ chấn thương đa số là nhẹ chiếm 74% [16].
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Giang (2014) về “Thực trạng tai nạn thương tích nghề nghiệp và một số yếu tố liên quan của ngư dân đánh bắt cá hải sản xa bờ tại thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An”. Nghiên cứu được tiến hành trên 381ngư dân, sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích kết hợp hồi cứu số liệu thứ cấp.