Chương I: Tông quan các nguôn tài liệu uy tín từ trong và ngoài nước đồng thời đưa ra cơ sở lý luận về hiêu biết tài chính, hành vi quán lý tài chính cá nhân, những yếu tô ảnh hưởng đến hành vi quán lý tài chính cá nhân. - _ Chương II; Tổ chức và phương pháp nghiên cứu. - _ Chương III: Kết quả nghiên cứu. - _ Danh mục tài liệu tham khảo: - Phu luc Bang hoi: - Phu luc Phéng van sau: 11 CHUONG I.
TONG QUAN VA CG SO LY LUAN: 1. Tông quan và cơ sở lý luận về hiểu biết tài chính: Theo Nguyễn Thị Hoài Lê (2023), hiệu biết tài chính là “knowledge acquiring” thay vì chỉ là “understanding”. Người có khả năng lĩnh hội, nắm được ý nghĩa các kiến thức liên quan về các lĩnh vực tài chính khác nhau (hành vi tài chính cá nhân, tiền bạc va dau tu.) la người có hiệu biết tài chính (Thị, Mai Vũ, et al, 2021). Hiéu biét tài chính cũng được hiểu là các cách thức quản lý tài chính trên phương diện chuân bị các khoán dự trù cho trường hợp rủi ro tài chính bát thường của tương lai, sử dụng giá tri của đồng tiền vào kinh doanh, đầu tư hợp lý, tiết kiệm và lập ngân sách cá nhân (Hogarth, 2002).
Schagen & Leans (1996) định nghĩa hiệu biết tài chính là khả năng đưa ra đánh giá một cách có hiệu quả và ra các quyết định liên quan đến việc phân bỏ chỉ tiêu. OECD (2012) — tô chức đã có các đợt khảo sát đánh giá về hiểu biết tài chính định kỳ ở rất nhiều nước trên thế Giới đưa ra định nghĩa như sau: hiệu biết tài chính là sự kết hợp của nhận thức, kiên thức, kỹ năng, thái độ và hành vi thiết yêu để đưa ra quyết định tài chính hiệu quả, cuối cùng đạt được mức độ cao vè hiểu biết tài chính cá nhân. Trong nghiên cưu này, hiệu biết tài chính là kiến thức tài chính được tích lũy bao gồm những hiểu biết chuyên ngành cơ bản, cách mở tài khoản đầu tư và tiết kiệm, các loại báo hiểm, khả năng đánh giá các sản phẩm và khuyến mại ưu đãi. đê từ đó thực hiện hành vi quản lý tài chính cá nhân hiệu quả.
Hiêu biết tài chính đồng nghĩa với việc mọi người hiểu rõ và có sự tự tin nhát định đôi với các quyết định liên quan đến tất cá các khía cạnh của ngân sách, chỉ tiêu và tiết kiệm của bản thân (Morgan & Long, 2020). Người có hiệu biết tài chính có thê tự đánh giá và do lường được năng lực tài chính của bản thân - họ tin bản thân mình có du tri thức, sự am hiểu đề tô chức và thực hiện các chuỗi hành động cần thiết với kết quả cuối cùng có thê đạt được là các mục tiêu cụ thê vẻ tài chính hiệu quá cho cuộc sóng cá nhân (Bandura, 1997). Qua đó, tạo nên sự tự tin cá nhân trong vần đè tài chính (Diệu, 2024). Người có khá năng tự tin về tài chính thường có khả năng cao hơn vào việc lập kế hoạch tài chính tích cực, bao gồm tiết kiệm cho nhiều mục đích khác nhau và kiên trì trong việc thực hiện kế hoạch đó bằng cách mạnh mẽ đưa ra các quyết định tài chính trong cuộc sông (Zia-ur-Rehman & cộng sự, 2021).
Kiến thức tài chính củng cô niềm tin tài chính cá nhân đề tạo tiền đề đối phó với thách thức tài chính bát ngờ, thích nghi được với các biến động kinh tế (Gamst-Klaussen & cộng sự, 2019). Wachira & Kihiu (2012) cũng cho rằng hiệu biết tài chính giúp người tiêu dùng tránh được những thời điểm khó khăn thông 12 qua các chiến lược hạn chế rủi ro chỉ tiêu trong tương lai và sử dụng các san phẩm tài chính hiệu quá, quan trọng nhát là lên được một kế hoạch hợp lý vè chỉ tiêu lâu dài, khỏe mạnh. Đối với sinh viên, khi có thêm kiến thức tài chính, họ có thái độ tích cực hơn đối với tiền bạc, đưa ra quyết định tốt hơn, giúp tiết kiệm nguồn lực và cái thiện tình hình tài chính của bản thân (Knapp, 1991). Điều này giúp đảm bao khả năng học tập hiệu quá trong những năm Đại học đồng thời có nguôn vốn dự trù cho sinh viên sau tốt nghiệp.
Ngược lại những sinh viên có hiểu biết tài chính thấp sẽ làm gia tăng khó khăn tài chính kéo dài cho hiện tại và trong tương lai (Danes & Hira, 1987). Trình độ tài chính thấp sẽ dẫn tới những quyết định không tốt như chỉ tiêu bừa bãi, nợ nàn, thậm chí phá sản. Những người có hiểu biết tài chính thấp cũng it có kiến thức cần thiết đề tránh hành vi lừa đảo; họ thường có những khoán thế chấp đắt đỏ, phải đi vay với chỉ phí cao; ít khả năng thành công trên thị trường chứng khoán hay có kế hoạch lương hưu về già (OECD, 2005; Lusardi & Tufano, 2009; Van Rooji, Lusardi & Alessie, 2011; Lusardi & Mitchell, 2008). Ở góc độ của toàn nèn kinh tế, việc nhiều cá nhân có hiều biết đúng đắn về các vấn đề tài chính sẽ ảnh hưởng tích cực đến sự ôn định của thị trường tài chính quốc gia trên nhiều khía cạnh như giảm thiệt hại tài chính trước các biến động kinh tế, góp phan báo vệ quyèn lại cá nhân hiệu quả khi tham gia các sàn giao dịch chứng khoán, đầu tư.đồng thời ngăn cám những hành vi kinh doanh không trung thực.
Việc người dân thiếu hiêu biết và thiếu niềm tin vào thị trường tài chính, không nắm rõ hợp đồng hay nàn táng tài chính cơ bán sẽ kìm hãm các hoạt động kinh doanh do không biết khởi nghiệp, đầu tư (Đinh Thị Thanh Vân & Nguyễn Thị Huệ, 2016; Nguyễn Đình Trung, 2013; Phạm Tiền Mạnh, 2018). Có thẻ thấy tầm quan trọng của hiệu biết tài chính là vô cùng to lớn, kiến thức về quản ly chỉ tiêu, đầu tư, tiết kiệm được nâng cao sẽ ánh hưởng tích cực đến cuộc sóng cá nhân, gia đình, xã hội (Thị, Mai Vũ et al, 2021). Thông qua nhiều nghiên cứu, Nguyễn Thị Hoài Lê (2023) đã tổng quan việc đo lường đánh giá hiểu biết tài chính khăng định thống nhất ở ba thành té: kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính. Nghiên cứu này sẽ tập trung đo lường thái độ tài chính của sinh viên năm nhất Đại học — là khảo sát, điều tra về quan điểm, suy nghĩ đối với tiền bạc cũng như kế hoạch tài chính tương lai.
Từ Việc đánh giá thái độ tài chính sinh viên để đưa ra những cơ sở cho các hành vi quản lý tài chính trong thực tế của bản thân sinh viên. Tổng quản và cơ sở lý luận về hành vi quản lý tài chính cá nhân: Hanh vi quan ly tai chính cá nhân (PFMB - Personal Financial Management Behavior) la thuật ngữ chỉ các hoạt động liên quan như lập ngân sách, ngân hàng, bảo hiém, thé chấp, đầu tư và hưu trí, thuế và lập kế hoạch bắt động sản. Tựu chung lại, quản ly tài chính cá nhân là sắp xếp, có kế hoạch sử dụng tiền đề tiết kiệm và đầu tư (W. Quản lý tài chính cá nhân là việc một người sắp xép, đánh giá, kiêm soát tiền bạc rồi thực hiện sử dụng nguồn tài chính của mình sao cho hiệu quả (Thị, Mai Vũ et al, 2021).
PFMB cũng là kế hoạch sử dụng tiền bạc của một cá nhân trong một mức độ rủi r0 của tương lai đã lường trước được (N. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một cách giái thích rằng quán lý tài chính cá nhân là quá trình phân bồ tiền bạc theo từng mục đích tài chính và hoàn thành nó theo kế hoạch đề ra. Rất nhiều nghiên cứu đã khăng định hành vi quán lý tài chính hiệu quả sẽ cải thiện tích cực tình trạng chỉ tiêu hằng ngày của cá nhân, tạo tiền đề cho các ké hoạch đầu tư Của tương lai. Ngược lại, thất bại trong quán lý tài chính sẽ dẫn đến những hậu quả tôi tệ, lâu dài, kéo theo hệ lụy nghiêm trọng cho cá nhân và xã hội (Falahati & Paim, 2011; Joo, 2008; Anvari & cộng sự, 2011).
Đối với rất nhiều sinh viên, tài chính là nỗi lo lắng thường trực (Archer & Lamnin, 1985; Murphy & Archer, 1996). Việc không còn sự kiêm soát tài chính sát sao của cha mẹ và bắt đầu cuộc sống tự lập xa nhà với những nỗi lo tiền bạc về sách vở, đồ dùng, tiền sinh hoạt, ở trọ, đi lại. đã gây áp lực lớn cho sinh viên. Để giải quyết những khó khăn này đòi hỏi sinh viên phải có kỹ năng quản lý tài chính trước khi tự lập (Lyons, 2006).
Vai trò mà quản lý tài chính mang lại cho sinh viên là rất lớn và trên nhiều khía cạnh như chỉ tiêu, tiết kiệm, đầu tư sẽ giúp sinh viên hạn chế tiền bạc không càn thiết và chủ động hơn trong những khoản chỉ bát ngờ. Chính bản thân sinh viên cũng nhận thức được vai trò to lớn của hành vi quản lý tài chính cá nhân khi theo kết quả điều tra của Vũ Thị Mai và các cộng sự (2021), có khoảng 94,9% trong 651 sinh viên được khảo sát thấy được từ hai vai trò trở lên của PFMB. Dấu vậy, Goyal & Jing Jian Xiao (2021) cho rằng nhiều người có thẻ nhận thức và hiệu biết sâu sắc về kiến thức tài chính chuyên môn cũng như vai trò của Quản lý tài chính nhưng không thê gọi là có khả năng tài chính trừ phi được phản ánh qua các hành vi thực tế về chỉ tiêu, lên kế hoạch sử dụng các dòng tiền. Thực tế là nhiều sinh viên gặp thát bại trong việc chỉ tiêu và quán lý tiền bạc như việc phung phí, mua sắm mát kiêm soát, đầu tư ngoài khả năng tài chính hiện có, lập kế hoạch nhưng chưa có mục tiêu rõ ràng ( theo Báo Bạc Liêu ).
14 Và một loạt các yêu tố như hoạt động sinh hoạt hàng ngày, sức khỏe thé chất và tinh thần, hiệu quả làm việc đều sẽ bị ánh hưởng một cách trực tiếp và tiêu cực dưới tác động của những hành vi quán lý tài chính kém hiệu quá, đặc biệt với sinh viên là kết quả học tập và khả năng tìm việc sau khi tốt nghiệp (Drentea & Lavrakas, 2000). Bởi vậy, trong suốt những năm đại học, việc duy trì hành vi quán lý tài chính hợp lý sẽ giúp sinh viên đám bảo một sức khỏe tài chính bèn vững sau này (Xiao & cộng sự, 2009). Xiao (2006) công bó các phương diện quan trọng của kỹ năng quán lý tài chính cá nhân: quản lý chỉ tiêu (QLCT), quán lý tín dụng (LTD), quản lý tiết kiệm (QLTK) — đầu tư và quán lý bảo hiểm.