Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về hoạt động cho vay của Ngân hàng thƣơng mại 1. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm Ngân hàng thương mại Có nhiều khái niệm về NHTM tùy vào pháp luật của mỗi nước.
Theo điều 20 Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam (luật số 20/1997/QH 10 ban hành ngày 26/12/1997). [4] “Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm: ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác”. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại - Hoạt động kinh doanh ngoại hối: Đây là hoạt động đầu tiên mà Ngân hàng thực hiện, với nội dung là Ngân hàng đứng ra mua hoặc bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác và thu được lợi nhuận nhờ chênh lệch giá và phí dịch vụ.
Ngày nay hoạt động này đã mở rộng ra với rất nhiều các hình thức dịch vụ phong phú: mua bán, trao đổi, gửi vay các loại ngoại tệ với các nghiệp vụ như giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn và tương lai. Các NHTM tham gia giao dịch ngoại hối với hai mục đích. Thứ nhất, Ngân hàng cung cấp dịch vụ cho khách hàng, chủ yếu là mua hộ và bán hộ cho nhóm khách hàng riêng lẻ, và Ngân hàng thu một khoản phí. Mục đích thứ hai là Ngân hàng kinh doanh ngoại hối nhằm kiếm lời khi tỷ giá thay đổi.
- Hoạt động huy động vốn: 6 Các Ngân hàng cũng giống như bất kỳ một doanh nghiệp nào trong nền kinh tế để duy trì hoạt động và phát triền cần vốn. Nguồn vốn của Ngân hàng gồm có vốn tiền gửi, vốn tiền vay, vốn chủ sử hữu và vốn uỷ thác đầu tư. Để thực hiện hoạt động này Ngân hàng nhận tiền gửi, phát hành các giấy nợ hoặc cổ phiếu với cam kết sẽ hoàn trả khách hàng đúng hẹn kèm theo một khoản tiền gọi là tiền lãi. Việc huy động được càng nhiều vốn sẽ càng tạo điều kiện cho Ngân hàng mở rộng kinh doanh do đó các Ngân hàng luôn tìm kiếm các nguồn vốn với chi phí thấp và ổn định, đa dạng hoá các hình thức và lãi suất tiền gửi, giấy nợ nhằm thu hút được nhiều vốn trong nền kinh tế.
- Hoạt động sử dụng vốn: Đây là hoạt động Ngân hàng sử dụng nguồn vốn huy động được để đầu tư hoặc cấp tín dụng. Hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của Ngân hàng và là hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận cho Ngân hàng. Bên cạnh hoạt động tín dụng Ngân hàng cũng mở rộng danh mục tài sản bằng cách đầu tư vào các giấy tờ có giá như trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty. Các hoạt động đầu tư và tín dụng mang lại phần lớn lợi nhuận cho Ngân hàng nhưng lại chứa đựng nhiều rủi ro nên các Ngân hàng thường rất thận trọng khi thực hiện hoạt động này.
- Các hoạt động khác: Các hoạt động Ngân hàng khác có thể kể ra ở đây như là hoạt động bảo quản vật có giá, cung cấp các khoản giao dịch và thực hiện thanh toán, quản lý ngân quỹ, tài trợ các hoạt động của Chính phủ, cho thuê thiết bị trung và dài hạn, cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn, cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán, bảo hiểm, dịch vụ đại lý. Các hoạt động này mang lại nguồn thu nhập cho Ngân hàng thông qua viêc thu phí và chứa đựng ít rủi ro. Do vậy các Ngân hàng hiện đại ngày nay đang mở rộng hoạt động dịch vụ này nhằm tăng nguồn thu giảm bớt rủi ro. Hoạt động cho vay của Ngân hàng thƣơng mại 1.
Khái niệm hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại Nhiều người vẫn đồng nghĩa hoạt động cho vay và hoạt động tín dụng của Ngân hàng là một nhưng thực ra không phải vậy. Tín dụng rộng hơn cho vay, nó 7 bao gồm cho vay và các hoạt động khác như chiết khấu thương phiếu, cho thuê tài chính. Có thể hiểu rằng: Cho vay là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (Ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên đi vay khi đến hạn thanh toán. Phân loại hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại Có rất nhiều tiêu thức khác nhau để Ngân hàng phân loại cho vay như: theo thời gian, theo tài sản đảm bảo, theo đối tượng cho vay, theo phương thức cho vay, theo nguồn cho vay.
Cụ thể như: - Theo đối tượng tham gia vào quy trình cho vay: + Cho vay trực tiếp: Là loại hình cho vay mà Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ cho Ngân hàng. + Cho vay gián tiếp: Là hình thức cho vay qua các tổ chức trung gian. Tổ chức trung gian ở đây có thể là các tổ, hội, đội nhóm như nhóm sản suất, hội nông dân, hội phụ nữ.hoặc các công ty bán lẻ. Đối với các công ty bán lẻ, Ngân hàng sẽ mua lại các khế ước hoặc các chứng từ nợ phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán.
- Theo mức độ tín nhiệm khách hàng: + Cho vay có đảm bảo: Là loại hình cấp tín dụng dựa trên các bảo đảm như thế chấp hay cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của bên thứ ba. Đối với các khách hàng không có uy tín cao đối với Ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi phải có đảm bảo. Sự đảm bảo này là căn cứ pháp lý để Ngân hàng có thêm nguồn thu thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn. + Cho vay không có đảm bảo: Là loại hình cho vay không có tài sản thế chấp.
cầm cố hoặc sự đảm bảo của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính lành mạnh, quản trị có hiệu quả thì Ngân hàng có thể cấp tín 8 dụng dựa vào uy tín bản thân khách hàng mà không cần một nguồn thu nợ thứ hai bổ sung. - Theo mục đích sử dụng vốn: + Cho vay nhằm mục đích sản suất kinh doanh: Ngân hàng cho các tổ chức, doanh nghiệp hay các công ty vay để kinh doanh dịch vụ hay thực hiện các dự ánđầu tư, các phương án sản suất. + Cho vay tiêu dùng: Ngân hàng cho các cá nhân hay hộ gia đình vay để đáp ứng nhu cầu mua sắm hàng tiêu dùng lâu bền như nhà cửa, phương tiện vận chuyển.
CVTD là một trong những dịch vụ Ngân hàng mới phát triển gần đây nhưng đã tỏ rõ được ưu thế của nó so với các khoản cho vay khác của Ngân hàng. Phát triển hoạt động CVTD đã trở thành xu hướng tất yếu để các Ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường tài chính. Hoạt động cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm, đặc điểm và đối tƣợng cho vay tiêu dùng 1.
Khái niệm cho vay tiêu dùng “Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho các nhu cầu tiêu dùng của hộ gia đình và cá nhân”.66] Nếu như cho vay sản xuất kinh doanh là một hình thức tín dụng mà các NHTM cấp cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế nhằm tài trợ cho các dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh. thì CVTD lại là một sản phẩm tín dụng rất hữu ích nhằm tài trợ cho những nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình hoặc để mua cổ phiếu hay trái phiếu. Như vậy, khác với các khoản cho vay sản xuất kinh doanh - các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế sử dụng vốn vay để tài trợ cho vốn lưu động, xây dựng nhà xưởng, mua sắm trang thiết bị., các khoản CVTD giúp người tiêu dùng có thể sử dụng hàng hoá dịch vụ trước khi họ có khả năng chi trả, tạo cho họ có thể hướng tới một cuộc sống cao hơn như mua xe, các dụng cụ dân dụng, chi phí nghỉ ngơi, du lịch. Đặc điểm của cho vay tiêu dùng 9 Ngoài những đặc trưng chung của tín dụng ngân hàng: là quan hệ vay mượn dựa trên cơ sở niềm tin, là quan hệ vay mượn có thời hạn và có hoàn trả, tiền vay được cấp dựa trên cơ sở hoàn trả vô điều kiện, CVTD có những đặc điểm riêng sau: - Giá trị món vay thường nhỏ lẻ, phân tán nhưng số lượng các món vay thì lại rất lớn Các khách hàng thường tìm đến Ngân hàng nhằm mục đích vay tiêu dùng thông thường có nhu cầu vay vốn không lớn, thậm chí còn khá nhỏ.
Điều này là do giá của hàng hoá dịch vụ tiêu dùng không quá đắt đỏ, hoặc khách hàng vay vốn đã có được sự tích luỹ từ trước đối với các tài sản có trị lớn. Chính điều này đã dẫn đến giá trị món vay tiêu dùng thường rất nhỏ, phân tán nên chi phí quản lý cao. Tuy vậy, trên thực tế tổng quy mô vay tiêu dùng của Ngân hàng lại rất lớn, đó là vì tuy mỗi món vay tiêu dùng có quy mô nhỏ nhưng do đây là nhu cầu vay vốn khá phổ biến, đa dạng và thường xuyên đối với mọi tầng lớp dân cư nên số lượng khách hàng tìm đến Ngân hàng vay vốn là rất đông, khiến cho tổng quy mô vay tiêu dùng lại trở nên khá lớn. - Các khoản CVTD có độ rủi ro cao,nguồn trả nợ không ổn định, phụ thuộc vào nhiều yếu tố Loại hình CVTD luôn chứa đựng những nguy cơ rủi ro khá lớn, cao hơn loại hình cho vay tài trợ sản xuất kinh doanh dưới cả ba góc độ: + Thứ nhất: Luôn tồn tại nhóm khách hàng chây ì, lừa đảo.
+ Thứ hai: Các rủi ro khách quan như suy thoái kinh tế, mất mùa, thất nghiệp, bệnh tật, tâm lý tiêu dùng của dân cư, mức độ ổn định xã hội. + Thứ ba: Các rủi ro chủ quan như là tình trạng công việc hay sức khoẻ của khách hàng, diễn biến tâm lý của khách hàng.