Phần mở đầu 123doc 4 Chương 2: Tổng quan cơ sở lý luận về tín dụng, khả năng trả nợ, vai trò của tín dụng đối với sinh viên và cơ sở thực nghiệm nghiên cứu được sử dụng. Chương 3: Tổng quan về Chi nhánh Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Bình Phước. Chương 4: Mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ khoản vay sinh viên vay vốn tại Chi nhánh Ngân hàng chính sách tỉnh Bình Phước. Chương 5: Kết quả nghiên cứu và gợi ý chính sách.
123doc 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG, KHẢ NĂNG TRẢ NỢ, VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG ĐỐI VỚI SINH VIÊN VÀ CƠ SỞ THỰC NGHIỆM NGHIÊN CỨU ĐƯỢC SỬ DỤNG 2. Khái niệm về tín dụng và khả năng trả nợ 2. Khái niệm về tín dụng Tín dụng là một phạm trù kinh tế tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế-xã hội. Đây là nhân tố quan trọng thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển.
Một số khái niệm về tín dụng như: Căn cứ theo luật các Tổ chức tín dụng năm 2004 thì hoạt động tín dụng là việc Tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có của Tổ chức tín dụng, vốn huy động để thực hiện việc cấp tín dụng. Theo tác giả Sữ Đình Thành (2008) thì tín dụng là thể hiện mối quan hệ vay mượn tài sản giữa người vay và người cho vay trên cơ sở hoàn trả cả vốn gốc và lãi sau một thời gian được thống nhất giữa các bên liên quan. Theo luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 thì cấp tín dụng là việc tổ chức sử dụng một khoản tiền hay cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền trên cơ sở có hoàn trả. Các nghiệp vụ cấp tín dụng bao gồm cho vay, bảo lãnh, … Trong đó định nghĩa cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho bên vay một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Tóm lại: Tín dụng là quan hệ vay mượn giữa các đối tượng, trong đó đối tượng này chuyển nhượng cho đối tượng khác quyền sử dụng tài sản trong một thời gian nhất định trên cở sở có hoàn trả với những điều kiện mà hai bên đã thoả thuận. Khả năng trả nợ Hiện tại, trên thế giới và Việt Nam chưa có thống nhất khái niệm về “khả năng trả nợ” mà chỉ tập trung vào các biểu hiện của khách hàng được đánh giá là “không có khả năng trả nợ”, “vỡ nợ”, “mất khả năng trả nợ”, … Theo Basel Committee on Banking Supervision (2006) hay Basel II, định nghĩa khách hàng không có khả năng trả nợ là những khách hàng có một trong các dấu hiệu 123doc 6 như khách hàng không có khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh toán đầy đủ khi đến hạn hay khách hàng có các khoản nợ xấu có thời gian quá hạn trên 90 ngày. Như vậy, khả năng trả nợ của khách hàng là việc khách hàng có thực hiện đầy đủ và đúng hạn nghĩa vụ nợ cho bên cấp tín dụng trong thời gian quan hệ tín dụng hay không. Một số yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ Những nhân tố từ phía ngân hàng: (i) Công tác tổ chức cho vay: Ngân hàng có cơ cấu tổ chức khoa học và mang tính chuyên nghiệp cao đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các bộ phận, nhân viên trong ngân hàng, từ đó các món vay được giải ngân kịp thời, đầy đủ và đúng mục đích đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn vay.
Khách hàng sử dụng vốn vay hiệu quả là tiền đề cho việc thu nợ của ngân hàng. (ii) Chính sách tín dụng và nhân sự ngân hàng: Ngân hàng có chính sách cho vay phù hợp với từng đối tượng, từng điều kiện để đảm bảo việc thu hồi nợ hiệu quả. Năng lực và đạo đức nghề nghiệp của nhân viên tín dụng: Chất lượng đội ngũ nhân viên là nhân tố ảnh hưởng đến sự thành bại của hoạt động ngân hàng. Nhân viên tín dụng có trình độ chuyên môn cao giúp cho người đi vay hiểu rõ hơn các quy trình, điều kiện cho vay và trả nợ qua đó có kế hoạch sử dụng tiền vay đúng mục đích và hiệu quả đồng thời chuẩn bị kế hoạch trả nợ.
Đồng thời thường xuyên tiếp xúc với người vay để nắm bắt được tình hình thu nhập của họ từ đó có biện pháp hướng dẫn tăng cường khả năng trả nợ. (iii) Kiểm soát hoạt động cho vay: Giúp tăng cường giám sát số tiền vay được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả, mang lại kết qua tốt đẹp cho việc thu hồi nợ Các nhân tố từ phía người vay: Có rất nhiều nhân tố từ phía người vay ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của họ, nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã đưa ra nhiều nhân tố như độ tuổi, giới tính, số thành viên trong gia đình,…. Một số yếu tố thường được nhắc tới trong các nghiên cứu như: 123doc 7 Các yếu tố thuộc về cá nhân người vay: (i) Độ tuổi: Các nghiên cứu như Pasha và Negese (2014); Angaine và Waari ( 2014) cho thấy rằng người vay càng lớn tuổi khả năng trả nợ tăng theo bởi vì người vay càng lớn tuổi có nhiều kinh nghiệm kinh doanh, sinh sống ổn định và tích lũy được tài sản. Ngược lại, theo S.Schwartz (2000) người vay càng lớn tuổi thì khả năng trả nợ càng giảm (ii) Giới tính: Có nhiều nghiên cứu đánh giá khả năng trả nợ của nam giới và nữ giới.
Theo Mokhta và cộng sự (2012) thì nữ giới có khả năng trả nợ tốt hơn do phụ nữ thường có trách nhiệm và kỷ luật cao hơn nam giới. Ngược lại, theo Nawai và Shariff (2012) thì nam giới lại có khả năng trả nợ tốt hơn bởi công việc của họ thường thu nhập cao hơn, họ có sức khỏe để làm những công việc khó khăn và nặng nhọc. Cụ thể hơn là theo nghiên cứu của Karlan (2007), những người vay là dân tộc đa số cao hơn có khả năng trả nợ cao hơn dân tộc thiểu số. Nghiên cứu của Roslan và Karim (2009) cho rằng dân tộc không ảnh hưởng tới khả năng trả nợ.
(iv) Trình độ học vấn: Theo Angaine và Waari (2014) người có trình độ học vấn cao thường có khả năng trả nợ cao do học vấn mang tính giáo dục, ảnh hưởng đến ý thức của con người về nghĩa vụ mà họ phải thực hiện, đồng thời liên quan đến công việc và thu nhập của họ. (v) Nghề nghiệp của người vay: Theo Mokhta và cộng sự (2012) nghề nghiệp của người vay được đo lường định tính dựa trên việc hộ vay sản xuất nông nghiệp hay ngành nghề khác. Các yếu tố thuộc về hộ vay: 123doc 8 (i) Số thành viên gia đình: Số thành viên trong gian đình cũng ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay. Theo Munene và Guyo (2013) nếu số thành viên trong gia đình càng nhiều và kiếm được nhiều thu nhập, mức độ hỗ trợ nhau sẽ tốt hơn do đó làm tăng khả năng trả nợ và ngược lại số thành viên trong gia đình nhiều mà số người phụ thuộc cũng nhiều sẽ ảnh hưởng xấu đến khả năng trả nợ.
(ii) Thu nhập và tiết kiệm: Theo Wahab và cộng sự (2011) nếu các gia đình có nhiều nguồn thu nhập khác nhau thì khả năng trả nợ càng cao, có thể đảm bảo được khả năng trả nợ khi thu nhập của một thành viên khác bị giảm sút. Thói quen tiết kiệm và mục đích tiết kiệm cho thấy nhận thức của hộ vay khi thực hiện việc tiết kiệm, do đó có tương quan với khả năng trả nợ (Haile, 2015; Jacob P. Gross và cộng sự, 2008). (iii)Mục đích sử dụng vốn vay: Theo Teguia (2016) nếu người vay vốn và sử dụng đúng mục đích ban đầu sẽ giúp đạt được mục tiêu đề ra, từ đó tạo ra kết quả khả quan có thể tăng khả năng trả nợ.
Bởi lẽ, nhiều nguồn thu nhập sẽ giúp đa dạng hóa nguồn thu giảm thiểu rủi ro khi nguồn thu nhập khác bị gián đoạn. (vi) Số món vay: Theo Matin (1997) số món vay mà người vay đi vay tại tổ chức tín dụng khác nhau sẽ làm giảm khả năng trả nợ.1 Tóm tắt các yếu tố từ phía khách hàng ảnh hưởng tới khả năng trả nợ khoản vay Yếu tố Đo lường Nghiên cứu Kỳ vọng dấu Độ tuổi Số tuổi của người vay Pasha và Negese, 2014; 2012; Angaine và Waari, +/- 2014.Schwartz, 2000 Giới tính Nam hay nữ vay vốn Mokhta và cộng sự, 2012; Nawai và Shariff, +/- 2012. 123doc 9 Dân tộc Kinh hay dân tộc khác Karlan, 2007; Nawai và +/- Shariff, 2012; Roslan và Karim, 2009 Số năm theo học tại Wahab và cộng sự, 2011 Trình độ học vấn trường hoặc trình độ + học vấn Angaine và Waari, 2014. Thành viên gia đình Wahab và cộng sự, - Số lao động 2011; Munene và Guyo, + Số người trong gia 2013 đình - Số người phụ Angaine và Waari, 2014.
thuộc - Tổng thu nhập từ hoạt Wahab và cộng sự, Tổng thu động sản xuất kinh 2011; + nhập/doanh thu doanh của hộ Nawai và Shariff, 2012. Tiết kiệm - Tổng tiết kiệm - Tổng số tiền tiết kiệm Karlan, 2007 + của gia đình - Mục đích tiết Tiết kiệm để làm gì kiệm Người vay có sử dụng Folefack và Teguia, Mục đích sử dụng vốn đúng mục đích 2016. + vốn không Nghề nghiệp của Sản xuất nông nghiệp Mokhta và cộng sự, +/- người vay hay nghề khác 2012 Số nguồn thu nhập Số nguồn Wahab và cộng sự, 2011; Jain and Mansuri, + 2003; Haile, 2015 Số món vay Số món Matin, 1997 - Nhân tố bên ngoài tác động đến khả năng trả nợ Các nhân tố vĩ mô như lạm phát, suy thoái, thất nghiệp,… tác động rất lớn tới khả năng trả nợ của người vay tiền (James N. Một nền kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, cá nhân hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn và tạo ra doanh thu và lợi nhuận tối ưu, có thể có khả năng trả vốn nợ vay cho ngân hàng.
Những biến động bất khả kháng xảy ra trong môi trường tự nhiên như thiên tai (hạn hán, lũ lụt, động đất…), hỏa hoạn làm ảnh hưởng xấu tới hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng, gây thiệt hại rất lớn cho các ngành sản xuất, dịch vụ và đời 123doc 10 sống của người đi vay gây ra các biến động xấu ngoài dự kiến trong mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và các khách hàng. Vai trò tín dụng cho vay đối với sinh viên Đối với nhiều trường đại học ở nhiều quốc gia, sinh viên đi học phải đóng học phí và mua sắm các phương tiện học tập.