Chương 1 TỔNG QUAN 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về môi trường Theo Luật bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23 tháng 06 năm 2014 của Quốc hội khóa 13 định nghĩa: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” [35]. Theo nghĩa rộng: môi trường là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sống, sản xuất của con người như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội.
Theo nghĩa hẹp, thì môi trường sống của con người chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và nhân tố xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống của con người [49]. Môi trường tự nhiên là các yếu tố tự nhiên bao gồm: đất, nước, không khí, cây cỏ, tài nguyên thiên nhiên và các yếu tố liên quan. đảm bảo cho con người có khả năng tồn tại và phát triển. Môi trường xã hội bao gồm các vấn đề chính trị, đạo đức, tôn giáo, văn hoá, pháp luật, phong tục, tập quán, văn hoá ứng xử, chính sách.
Khái niệm về ÔNMT ÔNMT là sự làm thay đổi tính chất lý học, hóa học, sinh vật học của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khỏe con người, đến sự phát triển của sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường [51]. Tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mực, giới hạn cho phép, được quy định dùng làm căn cứ để quản lý môi trường. Chất ô nhiễm là những chất có thể ở dạng rắn, lỏng, khí [49]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Hiện nay, khắp nơi trên thế giới, ở các nước phát triển cũng như ở các nước đang phát triển đều bị nhiễm bẩn môi trường như nhiễm bẩn không khí, nhiễm bẩn các lưu vực nước, nhiễm bẩn đất, nhiễm bẩn do các hoạt động công nghiệp, các hoạt động nông nghiệp, nhiễm bẩn do sinh hoạt.
− ÔNMT đất: là tất cả các hiện tượng làm nhiễm bẩn môi trường đất bởi các tác nhân gây ô nhiễm khi nồng độ của chúng tăng lên quá mức an toàn , đặc biệt là các chất thải rắn của ngành khai thác mỏ [31]. Người ta có thể phân loại đất bị ô nhiễm theo các nguồn gốc phát sinh hoặc theo các tác nhân gây ô nhiễm. Nếu theo nguồn gốc phát sinh có: Ô nhiễm đất do các chất thải sinh hoạt. Ô nhiễm đất do chất thải công nghiệp.
Ô nhiễm đất do hoạt động nông nghiệp. − ÔNMT nước: là khi thành phần của nước bị biến đổi lí học, hóa học, sinh học khác xa với trạng thái tự nhiên ban đầu của nó và nước đó không thể phục vụ cho ăn uống và sinh hoạt của con người và sinh vật [49]. Tác hại của ÔNMT nước đối với sức khỏe con người chủ yếu do môi trường nước bị ô nhiễm vi sinh vật gây bệnh, ô nhiễm các hợp chất hữu cơ, các hóa chất độc hại và ô nhiễm kim loại nặng [31]. − ÔNMT không khí là ô nhiễm do các chất có sẵn trong tự nhiên hoặc hành động của con người làm phát sinh các chất ô nhiễm trong không khí [51].
Khái niệm về sức khỏe môi trường Theo Tổ chức Y tế thế giới: “Sức khoẻ là trạng thái thoải mái cả về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không chỉ đơn thuần là không có bệnh hay tật”. Sức khỏe môi trường là “trạng thái sức khỏe của con người liên quan và chịu tác động của các yếu tố môi trường xung quanh”. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Con người phụ thuộc vào môi trường xung quanh và được hình thành từ môi trường này, cho nên việc bảo vệ môi trường chính là bảo vệ sức khỏe con người. Trạng thái sức khoẻ con người là tiêu chuẩn tổng hợp nhất của tình trạng môi trường.
Trong tổng số các bệnh tật của con người có tới 25% bệnh tật liên quan đến môi trường, trong đó có tới 80% các loại bệnh gây nên do nước hoặc liên quan đến nước. Người ta thấy 80% tất cả các bệnh ung thư liên quan đến môi trường (hút thuốc, dinh dưỡng, các yếu tố môi trường khác) [49]. Môi trường và sức khỏe con người có mối liên quan chặt chẽ với nhau. Nếu sử dụng khai thác hợp lý nó sẽ đem lại nguồn lợi lớn về kinh tế, sức khỏe cho con người và ngược lại nếu không biết cách bảo vệ, xây dựng phát triển và sử dụng môi trường sống hợp lý thì môi trường sẽ tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khoẻ, tạo ra các yếu tố nguy cơ cho sức khoẻ, bệnh tật.
Ô nhiễm môi trường khu vực khai thác mỏ trên thế giới và Việt Nam 1. Ô nhiễm môi trường khu vực khai thác mỏ trên thế giới ÔNMT do khai thác mỏ đang là vấn đề toàn cầu. Nguyên nhân chủ yếu là mối nguy cơ tích luỹ sinh học các chất ô nhiễm kim loại nặng ngày càng tăng trong động vật, thực vật và con người. Hoạt động khai thác khoáng sản phát triển mạnh từ thập kỷ trước ở nhiều quốc gia giàu tài nguyên như Nga, Mỹ, Australia, Campuchia, Indonesia, Phillipines, Trung Quốc, Ấn Độ.
Khai thác mỏ đáp ứng nhu cầu ngày càng gia tăng nguyên liệu khoáng sản. Khai thác khoáng sản là nguồn thu quan trọng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của nhiều quốc gia. Tuy nhiên khai thác mỏ cũng gắn liền với nhiều tác động môi trường và xã hội nghiêm trọng, đặc biệt là hiện tượng mất đất canh tác, xói lở, suy thoái tài nguyên và nguồn nước. Do đặc thù nên ngành khai thác khoáng sản dẫn tới suy thoái tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên nước,.
là rất lớn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Ở Hàn Quốc theo nghiên cứu của Jo I. S và cs năm 2004 chỉ ra nồng độ trung bình của Cd, Cu, Pb và Zn trong lớp đất mặt của ruộng lúa (0 - 15cm) tương ứng là 0,11 mg/kg (dao động từ 0 đến 1,01 mg/kg); 0,47 mg/kg (dao động 0 - 41,6 mg/kg); 4,84 mg /kg (dao động 0 - 66,4 mg/kg) và 4,47 mg/kg (dao động 0 - 96,7 mg/kg). Trong ruộng vườn, hàm lượng trung bình của Cd, Cu, Pb, Zn, As và Hg trong đất mặt là 0, 150 mg/kg; 2,30 mg /kg (dao động 0 - 27,8 mg/kg); 16,60 mg /kg (dao động 0,33 - 106 mg/kg); 0,44 mg/kg (dao động 0 - 4,14 mg/kg) và 0,05 mg/kg (dao động 0,01 - 0,54 mg/kg) [64].
Theo nghiên cứu của Sabine Martin và cs năm 2009 về tác động của KLN tới sức khoẻ con người đã nhận định rằng nói chung, con người bị tiếp xúc với các kim loại này do ăn phải (uống rượu hoặc ăn) hoặc hít phải (thở). Làm việc hoặc sinh sống gần một khu công nghiệp sử dụng các kim loại này và các hợp chất của chúng làm tăng nguy cơ bị phơi nhiễm cũng như sống gần một nơi mà các kim loại này đã được xử lý không đúng cách. Sinh kế của lối sống cũng có thể đặt ra những rủi ro cao hơn về tiếp xúc và tác động đến sức khoẻ do các hoạt động săn bắt và tập trung [69]. Nghiên cứu của Yongming Luo và cs năm 2009 về ô nhiễm KLN và khắc phục hậu quả ở đất nông nghiệp Châu Á chỉ ra rằng hầu hết các nước châu Á, với sự nhấn mạnh đến Trung Quốc, đang trải qua sự phát triển kinh tế nhanh chóng.
Một số đất nông nghiệp ở vùng ngoại ô của hầu hết các thành phố và khu vực tưới tiêu ở Trung Quốc bị ô nhiễm một phần bởi các KLN như Cd, As, Zn, Cu và Hg, dẫn đến sự nhiễm bẩn kim loại các sản phẩm nông nghiệp và có nguy cơ tiềm ẩn đối với con người sức khỏe [71]. Ở khu vực Nam Delhi, Ấn Độ, năm 2013 các nhà nghiên cứu Ashish Joshi và cs đã tiến hành đánh giá chất lượng nước ở khu vực gần mỏ khai thác khoáng sản tại trên bốn khu ổ chuột của South Delhi và chỉ ra rằng các vấn đề thường gặp về nguồn nước tại đây là tình trạng ô nhiễm nước (28%, n = 11), LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 số nước sạch được cấp để thay thế không đủ (12%, n = 5) và mùi hôi (7%, n = 3). Phần lớn những người được hỏi cảm thấy không lo ngại gì từ nguồn nước, trong khi 95% (n = 38) người tham gia cảm thấy rằng chất lượng nước có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ và hơn 2/3 số người tham gia (83%, n = 33) nước ô nhiễm có thể gây ra nhiễm trùng đường tiêu hóa hoặc rối loạn đường ruột [55]. Năm 2014, Carla Candeias và cs tiến hành nghiên cứu về xác định nguồn và đánh giá rủi ro tiềm tàng đối với các KLN và các vật liệu nguy hiểm trong khu vực khai khoáng: nghiên cứu trường hợp của mỏ Panasqueira (miền Trung Bồ Đào Nha) chất thải của Barroca Grande và các đập tràn mở có nồng độ As, Cd, Cu, Pb, W, và Zn cao như vậy (hàm lượng trung bình trong vật liệu chất thải thô nhiều hơn As = 7142 mg/kg; Cd = 56 mg/kg, Cu = 2501 mg/kg, Pb = 172 mg/kg, Sn = 679 mg/kg, W = 5400 mg/kg và Zn = 1689 mg/kg.
Các nồng độ vượt quá các giá trị xác định cho phần trăm thứ 90 của vùng Nam Bồ Đào Nha (như As 157 mg/kg, Cu 108 mg/kg, Ni 62 mg/kg, Pb 117 mg/kg, Zn 134 mg/kg) [57]. Theo kết quả nghiên cứu của Ping Zhuang và cs năm 2014 về môi trường đất nông nghiệp gần các mỏ ở phía Nam Trung Quốc, tại vị trí đỉnh núi mỏ Dabaoshan có hàm lượng một số KLN ở mức rất cao như: nồng độ Cu, Zn, Pb và Cd trong đất lúa đã vượt quá nồng độ cho phép tối đa đối với đất nông nghiệp Trung Quốc. Nồng độ KLN (mg/kg, trọng lượng cơ thể khô) trong rau dao động từ 5,0 đến 14,3 đối với Cu, 34,7 đến 170 đối với Zn; từ 0,90 đến 2,23 đối với Pb và 0,45 đến 4,1 đối với Cd. Nồng độ Pb và Cd trong hạt gạo vượt quá giới hạn cho phép tối đa ở Trung Quốc.
Chế độ ăn uống của Pb và Cd thông qua việc tiêu thụ gạo và một số loại rau nhất định đã vượt quá mức chế độ ăn kiêng được đề nghị. Tình trạng hàm lượng KLN của cây lương thực trồng ở vùng lân cận của mỏ Dabaoshan và những hàm ý của chúng đối với sức khoẻ con người cần được nghiên cứu sâu hơn [71]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.