Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Sơ lược về liên cầu nhóm B 1. Đặc điểm vi sinh vật Liên cầu là cầu khuẩn xếp chuỗi, được Billroth mô tả lần đầu tiên vào năm 1874 từ mủ của các tổn thương viêm quầng và các vết thương bị nhiễm khuẩn. Năm 1880, Pasteur phân lập được liên cầu ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết.
Sau đó Ogston (1881), Rosenbach (1884) đã nghiên cứu kỹ về tổ chức bệnh lý. Năm 1919, Brown đã xếp loại liên cầu theo hình thái tan máu khác nhau khi chúng mọc trên môi trường thạch máu: - Tan máu (β) - Tan máu (α) - Tan máu (γ) Các liên cầu gây bệnh quan trọng ở người gồm nhóm A (Streptococcus pyogenes), nhóm B (Streptococcus agalactiae), nhóm D (Streptococcus enterococci), Streptococcus pneumoniae và Streptococcus viridans (13). GBS thuộc nhóm tan máu (β), là những vi khuẩn hiếu kỵ khí tùy tiện, được Rebecca Lancefield phân biệt với các loại liên cầu khác vào những năm 1930 sau khi nó được phân lập từ sữa và bò bị viêm vú (14).agalactiae trên môi trường thạch máu GBS là những vi khuẩn hình cầu hoặc bầu dục, đường kính trung bình từ 1μm (thường 0,5 - 1 x 1 - 2 μm), bắt màu Gram dương, xếp thành chuỗi, phân chia trong mặt phẳng thằng góc với trục của chuỗi và không tạo thành bào tử khi gặp điều kiện bất lợi. GBS được chia thành 10 kiểu hình huyết thanh khác nhau: Ia, Ib, II, III, IV, V, VI, VII, VII, IX.
Trong số những người trưởng thành không mang thai ở Hoa Kỳ (US), typ huyết thanh phổ biến nhất gây bệnh xâm lấn là nhóm V (29% trong giai đoạn 2005-2006), tiếp theo là typ huyết thanh Ia, II và III (14). Một nghiên cứu từ Alberta, Canada về các typ huyết thanh liên quan đến bệnh GBS xâm lấn từ năm 2003–2013, đã chứng minh rằng typ huyết thanh thường gặp nhất là III (20%), theo sau là typ huyết thanh V (19%), Ia (19%), Ib (13%), và II (11%) (15). Một nghiên cứu khác ước tính rằng 18% phụ nữ mang thai trên toàn thế giới bị nhiễm GBS, trong đó 98% các trường hợp phân lập được là typ huyết thanh IV (14).2: Đặc điểm kiểu hình huyết thanh ở S.agalactiae (16) GBS bất hoạt ở là 55ᵒC trong 30 phút, hoặc ở nhiệt độ -121ᵒC trong ít nhất 15 phút và ở nhiệt độ khô 160-170ᵒC trong ít nhất 1 giờ. Trong phân, GBS bị bất hoạt bởi Ozone.
37ᵒC là nhiệt độ tối ưu để chúng phát triển. GBS trong môi trường được tìm thấy trong bụi nhà, có thể sống sót trong không khí khoảng 1 tháng, GBS trong sữa ở -20ᵒC có thể sống trong 4 tuần và sống 9 tháng trong thịt cá đông lạnh ở -70ᵒC. Khác với nhóm Staphylococcus, GBS không có men catalase và phân biệt Streptococcus khác dựa vào các tính chất như: Hình dạng khuẩn lạc, hiện tượng tan máu, các phản ứng sinh hóa, sự đề kháng với yếu tố vật lý, hóa học, huyết thanh và đặc điểm hình thái (13). Các kháng nguyên và độc tố của GBS: GBS sản sinh ra nhiều chất ngoại bào, một số những chất này tạo ra độc tố hoặc kháng nguyên bảo vệ.
Các độc tố đã được xác định ở GBS như vỏ polysaccharide với giàu acid sialic, độc tố kênh Pore-forming, ly giải hyaluronic, các protein gắn với chất nền ngoại bào, acid Lipoteichoic, các peptidase và các yếu tố tiêu hủy protein liên quan với đáp ứng miễn dịch bẩm sinh (17). Vỏ được xem như là yếu tố độc lực chính của GBS. Đa số các chủng gây bệnh GBS có khả năng xâm nhiễu đều có vỏ bên ngoài. Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, những đột biến mất acid sialic liên quan đến giảm độc lực so với các chủng hoang dã (18).
7 Hầu hết các chủng GBS biểu hiện nhiều loại protein trên bề mặt, các protein này hoạt động như yếu tố bám dính và cùng có thể góp phần vào lẩn trốn với hệ miễn dịch. Các protein bề mặt bao gồm: tiểu đơn vị α của protein C (Bca), tiểu đơn vị β của protein C (Bac), Rib, Alp2 (protein giống Cα 2), peptidase Ca5 (ScpB), protein bề mặt gắn liminin (Lmb), protein gắn fibrinogen (FbsA), protein gắn fibrinogen được tiết ra (FbsB), protease botein gắn fibrCsp) và protein bề mặt của GBS (Spb1) (19). Điều đáng quan tâm là protein Lmb gắn laminin và protein ScpB có chắc năng như yếu tố bám dính với fibronectin mô tổ chức và hoạt động như “chất kết dính” trong thời kỳ mang thai. Saminin và protein ScpB có trong thai kỳ có liên quan đến tăng nguy cơ sinh non.
Các gen Lmb và ScpB đóng vai trò quan trọng cho GBS cư trú hoặc gây bệnh ở người (20). Cả 2 gen này nằm ở vị trí cạnh nhau trên cùng một transposon dài 16 kb. Tuy nhiên đột biến gen ScpB làm mất chức năng hoạt động của peptidase ScpB nhưng vẫn không ảnh hưởng đến ái lực của protein này với fibronectin (21). Một số protein khác đóng vai trò là yếu tố độc lực của GBS là: - Protein gắn với fibrinogen (FbsA protein), là protein bề mặt của tế bào vi khuẩn, có vai trò chống lại thực bào và quá trình xâm nhập của GBS.
- Protein Rib, là protein trọng lượng phân tử cao, có protein Rib, là protein trọng chủng tuýp III, protein này được mã hóa bởi gen Rib, có tính sinh miễn dịch và chịu trách nhiệm cho tính xâm nhiễm GBS ở trẻ sơ sinh. Ngoài ra, GBS cũng tạo ra được các độc tố như β-hemolysin/ cytolysin (CylE), hyaluronidase (HylB) và superoxide dismutase (SodA) và yếu tố CAMP (Cfb) giúp thúc đẩy đi vào tế bào chủ, tồn tại và lây lan (19).1: Tổng quát về độc tố của GBS (19) Yếu tố độc tố Vai trò Giúp GBS lẩn tránh hệ thống miễn dịch vật chủ Vỏ (opsonophagocytosis) Acid Trung gian bám dính vi khuẩn với tế bào eukaryotic Lipoteichoic Có thể là độc tố kênh Pore-forming. Kết quả trong phản ứng đặc Yếu tố CAMP trưng CAMP của GBS. Gắn với phần Fc của IgG và IgM, làm bất hoạt các globulin này đối với đáp ứng tạo miễn dịch cơ thể Kênh Pore-forming, cytolysin không sinh miễn dịch hoạt hoá chống β-haemolysin lại nhiều loại tế bào vật chủ Hylauronate Có thể là yếu tố phát tán qua mô liên kết của vật chủ lyase Hoạt hoá Thủy phân nhiều loại peptit có hoạt tính sinh học Oligopeptidase Kháng nguyên alpha giúp lẩn tránh hệ thống miễn dịch bằng cách Protein C biến đổi đặc tính kháng nguyên.
Kháng nguyên Beta có một miền liên kết với IgA Superoxide Chống lại oxy hóa bằng chuyển các anion superoxide thành các chất Dismutase ít độc C5a Peptidase Phân cắt và bất hoạt C5a bạch cầu trung tính. Liên kết với fibronectin Tương tác với Kết dính với các thành phần này có thể đóng vài trò giúp GBS cư trú protein ngoại ở bề mặt niêm mạc và biểu mô. Có thể là một trong những cơ chế bào lẩn tránh hệ miễn dịch Protein PBP1a Có thể bảo vệ GBS khỏi quá trình thực bào gắn penicilin Yếu tố hoạt Lẩn tránh hệ thống miễn dịch và hệ thống phòng thủ khác của vật hoá apoptosis chủ đại thực bào Hệ thống điều Điều chỉnh biểu hiện gen quy định độc lực phụ thuộc mật độ vi khuẩn tiết đôi 9 1. Các phương pháp xét nghiệm chẩn đoán GBS 1.
Phương pháp nuôi cấy, phân lập, định danh Phương pháp nuôi cấy là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán có GBS theo khuyến cáo của Trung tâm Kiểm soát và Dự phòng bệnh tật Hoa Kỳ (CDC), Hiệp hội Sản Phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG), Hiệp hội Vi sinh Hoa Kỳ (ASM) (22). Nuôi cấy là phương pháp quan trọng để thực hiện kháng sinh đồ và lựa chọn kháng sinh điều trị. Mẫu bệnh phẩm (thường từ dịch âm đạo hoặc /và trực tràng) cấy vào ống môi trường canh thang chọn lọc, như môi trường Todd - Hewitt, có bổ sung kháng sinh Gentamicin (8 μg/ml) và acid Nalidixic (15 μg/ml) hoặc Colistin (10 μg/ml) và acid Nalidixic (15 μg/ml). Ủ trong tủ ấm 35-37ᵒC, từ 18 đến 24 giờ với khí trường CO2 5%.
Trích biệt canh khuẩn vào đĩa thạch máu cừu và ủ trong tủ ấm 35- 37ᵒC sau 18-24 giờ. Quan sát và xác định các tính chất vi khuẩn gợi ý GBS, cầu khuẩn Gram dương, catalase âm tính. Thử nghiệm Christie- Atkins- Munch- Peterson (CAMP) hoặc phản ứng ngưng kết kháng nguyên nhóm B là các thử nghiệm quan trọng trong việc định danh GBS (23). Tại BVĐKQTVMTC, xét nghiệm nuôi cấy bệnh phẩm dịch âm đạo được thực hiện theo quy trình “Quy trình xét nghiệm vi khuẩn, vi nấm nuôi cấy hệ thống tự động bệnh phẩm dịch sinh dục phụ nữ có thai“ (phụ lục 1).
Nhuộm Gram khuẩn lạc Dựa trên nguyên tắc vi khuẩn bắt màu Gram âm hay Gram dương do sự khác nhau về thành phần, cấu trúc vách tế bào vi khuẩn. Vi khuẩn Gram dương có lớp peptidoglycan dày, nhiều acid teichoic, không bị ảnh hưởng bởi sự tẩy màu bằng cồn, vẫn giữ nguyên được màu tím ban đầu. Ngược lại, vi khuẩn Gram âm có một lớp peptidoglycan gắn với lớp phospholipid kép, xen kẽ các protein ở màng ngoài, lớp màng này dễ bị phá hủy bởi cồn khi tẩy màu. Do đó phức hợp tinh thể tím gentian - iod không bền, bị tẩy màu và màu được thay bởi các thuốc nhuộm khác.3: Hình ảnh GBS nhuộm Gram bắt màu tím Quan sát hình thể vi khuẩn ở vật kính dầu (x 100), GBS sau khi nhuộm Gram có tính chất sau (23): - Tính chất bắt màu: Gram dương (bắt màu tím).
- Cách sắp xếp: xếp thành chuỗi. Thử nghiệm catalase Những vi khuẩn sinh enzyme catalase để thủy phân H2O2 thành H2 và O2, tạo ra bọt khí. Xét nghiệm này dùng để phân tích đặc điểm ban đầu của hầu hết các vi khuẩn. Liên cầu và tụ cầu có hình thể và kích thước tương đương nhau, enzyme catalase có ở tất cả các loại tụ cầu, ngược lại, enzyme catalase không có ở liên cầu.
Do đó, GBS cho kết quả âm tính với thử nghiệm catalase. Đây là đặc điểm quan trọng để phân biệt liên cầu và tụ cầu.4: Test Catalase âm tính ở GBS Thử nghiệm catalase cho kết quả dương tính khi sủi bọt ngay lập tức, phản ứng yếu khi chỉ 1- 2 bóng khí, phản ứng âm tính khi không có bóng khí hoặc chỉ một ít bóng khí sau 20 giây (23). Thử nghiệm CAMP test Dựa trên nguyên lý GBS tiết ra một loại protein chịu nhiệt, bên ngoài tế bào vi khuẩn, có thể khuếch tán, tác động hiệp đồng với yếu tố tan máu beta (beta-lysin) do Staphylococcus aureus sản xuất ra để tạo thành một vùng ly giải trong môi trường chứa hồng cầu cừu hoặc bò. Protein này tên là yếu tố CAMP.