CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm sinh học, chu kỳ của giun truyền qua đất 1. Đặc điểm sinh học của giun đũa Giun đũa là loài giun thân dài, đuôi hình chóp nón, thường có màu hồng lợt hoặc trắng ngà. cấu tạo miệng giun có 3 môi hình bầu dục có răng và gai cảm giác gồm 2 môi bụng và 1 môi hmg.
Kích thước của giun đũa từ 15-31 cm ở giun đực, 20-35 cm ở giun cái. Giun đực có đuôi cong về phía bụng, cuối đuôi có 2 gai giao hợp. Giun cái có đuôi hình nón, thẳng, sau hậu môn có 2 gai nhú. Giun cái có lỗ sinh dục nằm ở mặt bụng, khoảng 1/3 trên [6].
Chu kỳ sinh học của giun đũa Hình 1.1 Chu kỳ sinh học của giun đũa -Nguồn: Bài giảng Kỷ -inh trùng- Đại [6] [Hà Nội (6013)[6] Giun đũa cái có thể đẻ trung bình 200 nghìn trứng/ngày tại ruột non, sau đó các trứng này được thải ra môi trường ngoài theo phân. 5 Âu trùng có thể được nở ra từ trứng giun sau 2 đến 4 tháng trong môi trường đất ẩm, với nhiệt độ từ 36°c đến 40oc. Nhiệt độ tốt nhất cho trứng giun phát triển là 25°C và chỉ cần thời gian 43 tuần. Khả năng lây nhiễm giun chỉ có ở những trứng có ấu trùng.
Sau khi lây nhiễm, ấu trùng có thể đi đến các cơ quan qua đường máu như gan, tim, phổi. Ở phổi, ấu trùng lột xác ° lần, sau đó phá vỡ các mao quản phổi, đi qua phế nang, phế quản, khí quản, đi ngược đến thực quản và được nuốt trở lại ruột non. Tại đây ấu trùng phát triển thành giun trưởng thành. Quá trình trưởng thành của giun kéo dài 5-12 tuần và sống từ 12 - 18 tháng.
Ấu trùng giun có thể đi lạc sang cơ quan khác trong quá trình di chuyển, đây chính là hiện tượng giun đi lạc chỗ. Đặc điểm sinh học của giun móc/mỏ Tuỳ thuộc ng ru hun c .láu hay không mà giun móc có màu trắng sữa, hơi hồng hoặc 'âu. Giun dài 8-11mm ở giun đực, và 10-13 mm ở giun cái, miệng có 2 đôi răng hình móc. Giun mỏ nhỏ và ngắn hơn giun móc, miệng có 2 đôi răng hình bán nguyệt rất sắc.
Giun mỏ đụ< có 2 gân sau chỉ chia 2 nhánh [6]. Chu kỳ sinh học của giun móc/mỏ 6 Hình 1. Chu kỳ sinh học của giun móc/mỏ -Nguồn: Bài giảng Kỷ -inh trùng- Đ]i [6] [Hà Nội (2013)[6] Giun móc/mỏ sống ký sinh và hút máu trên niêm mạc ruột ở tá tràng, trúng giun được thải ra môi trường theo phân. Khi gặp nhiệt độ từ 25oC - 350C, trúng được phát triển thành ấu trùng giai đoạn I sau 1 ngày (có ụ phình ở thực quản), dài khoảng 0,2- 0,3mm, sau đó phát triển ấu trùng giai đoạn II, co kích thước khoảng 0,5mm, ấu trùng tiếp túc phát triển thành giai đoạn III sau 5 ngày sau với chiều dài từ 0,5-0,7 mm.
Lúc này ấu trùng đã có khả năng xâm nhập vào cơ thể người qua da, niêm mạc. Đặc điểm của ấu trùng giun móc/giun mỏ là rất hoạt động và có hướng động giúp ấu trùng tìm vật chủ. Sau khi xâm nhập vào cơ thể, ấu trùng đi về tim phải theo đường tĩnh mạch, sau đó tới phổi. Tại phổi ấu trừng phát hiển thành lên giai đoạn IV và V, và di chuyển qua phế quản, khí quản, thực quản và được nuốt xuống ruột.
Tại tá tràng, ấu trùng ký sinh và trưởng thành giun móc/mỏ. Chu kỳ của giun móc kéo dài từ 42 đến 45 ngày, với đời sống kéo dài từ 4 đến 5 năm [6]. Đặc điểm sinh học của giun tóc 7 Giun tóc có màu trắng sữa hoặc hồng nhạt, gồm 2 phần rất rõ rệt: phần đầu chiếm 2/3 chiều dài và nhỏ, phần đuôi phình to, ngắn, dài 30 - 45mm ở giun đực và 30 - 50mm ở giun cái. Giun cái thường có đuôi thẳng, giun đực có đuôi cong và thêm gai sinh dục [6].
Chu kỳ sinh học của giun tóc Hình 1. Chu kỳ sinh học của giun tóc -Nguồn: Bài giảng Kỷ -inh trùng- Đại [6c [Hà Nội (6013) [6] Giun tóc ký sinh ở ruột kết và manh tràng. Sau khi nhiễm giun khoảng 60 ngày, giun tóc cái bắt đầu đẻ khoảng 3. Trứng chưa có phôi bài xuất ra ngoài theo phân, sau đó phát triển thành trứng giai đoạn II tế bào, rồi giai đoạn phôi dâu; và thành trứng có ấu trùng, có khả năng gây nhiễm.
Sau khi cơ thể người bị nhiễm trứng giai đoạn này, các ấu trùng thoát vỏ tại ruột non, sau đó trưởng thày và tiếp tục ký sinh ở manh tràng. Đời sống của giun tóc kéo dài 5-10 năm trong đường tiêu hóa của người [6]. Tác hại của bệnh giun truyền qua đất Các tác hại đối với sức khỏe con người có thể được gây ra ngay từ giai đoạn ấu trùng của các loại GTQĐ, tùy theo từng giai đoạn trong chu kỳ sinh học của mỗi loại 8 giun. Tác hại của giun đũa Tác hại chủ yếu của giun đũa là lấy chất dinh dưỡng do chúng ký sinh ở ruột non, gây rối loạn chuyển hóa và hấp thu các chất.
Các biến chứng của giun đũa gây ra có thể tác động lên gan, ống tụy, ruột thừa rất nguy hiểm hoặc tắc ruột, lồng ruột [6]. Trung bình 20 con giun đũa có thể hấp thu hết 0,7g protein và 2,8g carbonhydrate mỗi ngày [52]. Nghiên cứu của Starr MC. Nghiên cứu của Porpon R (2014) chứng minh được cân nặng trẻ của trẻ được tẩy giun tăng hơn 0,18 kg so với trẻ không được tẩy giun sau 6 tháng can thiệp tẩy giun ở các trẻ ở khu vực các nước đang phát triển [51].
Các trr lứng nhiv m giun thường là bụng chướng, gầy còm, lười ăn, ứa nước bọt, phân nát và kinh giật nhưng không rõ rệt nếu lượng giun ít, mà chỉ có các biểu hiện ăn không tiêu, đau bụng, buồn nôn. Đây đều là các biểu hiện nhiễm độc thần kinh. Các chất allergen do giun tiết ra có thể gây quá mẫn ở da, phổi, niêm mạc. Giun đũa gây rối loạn chuyển hóa mỡ, thiếu hụt vitamin c, pyridine, retinol, giảm hấp thu chất dinh dưỡng, suy giảm miễn dịch của vật chủ [6].
Tình trạng nhiễm giun đũa kéo dài, đặc biệt là ở trẻ em sẽ gây những ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng đến khả năng phát triển thể lực, trí tuệ của trẻ. Tác hại của giun móc/mỏ Giun móc/mỏ sống ký sinh và hút máu trên niêm mạc ruột ở tá tràng và phần đầu ruột non, nơi giàu mạch máu nên tác hại chủ yếu của chúng là gây thiếu máu do mất máu ở vật chủ. Giun móc/mỏ ký sinh ở tá tràng, mỗi con trung bình hút khoảng 0,14 - 0,36 ml máu/ngày và đồng thời tại chỗ giun hút (sau khi giun rời bỏ) máu vẫn tiếp tục chảy vì khi hút máu giun tiết ra chất chống đông máu. Lượng máu mất tại vết thương tương đương với lượng máu do giun hút được.
Tình trạng thiếu máu ở những bệnh nhân 9 nhiễm giun móc/mỏ rất trầm trọng, hàm lượng huyết thanh giảm rõ rệt [6]. Các nghiên cứu về khả năng hút máu của giun móc/mỏ cho thấy: Giun móc hút máu nhiều hơn giun mỏ. Giun móc hút trung bình 0,2 - 0,34 ml/ngày/con, giun mỏ hút lượng máu từ 0,03-0,05ml/ngày/con. Với những người nhiễm 500 giun móc/mỏ mỗi ngày mất 40 - 80 ml máu.
Thiếu máu kéo dài có thể dẫn đến suy tim chỉ giải quyết được suy tim khi điều trị khỏi bệnh giun móc/mỏ[38]. Người nhiễm giun móc/mỏ thường có thể trạng gầy yếu, da xanh, niêm mạc nhợt, do nhiễm giun móc/mỏ với CĐN cao, thời gian nhiễm dài. Đối với trẻ em gây SDD, chậm phát triển trí tuệ, triệu chứng rối loạn tiêu hoá kéo dài. Thường có các biểu hiện cơn đau dạ dày, đau tăng lên khi ăn, kèm theo cảm giác bụng cồn cào khó chịu, bệnh nhân chán ăn, buồn nôn, nôn, đi ngoài phân lỏng, đôi khi có nhầy máu giống bệnh nhân lỵ amipe hoặc táo bón.
Nhìn chung bệnh nhân mắc bệnh giun móc/mỏ triệu chứng về tiêu hoá chiếm tỷ lệ 92% [6]. Tác hại của giun tóc Do giun tóc cái trung bình mỗi ngày đẻ khoảng 5.000 trứng, nên mức độ gây hại khi mắc bệnh sẽ rất nghiêm trọng nếu không phát hiện và chẩn đoán, điều trị kịp thời. Nhiễm giun tóc có thể gây thiếu máu và gây tổn thuong tại chỗ đối với niêm mạc ruột, hậu quả có hội chứng tiêu hoá giống như hội chứng lỵ (đau bụng, đại tiện nhiều lần, phân ít mỗi lần đi và đôi khi có lẫn máu). Các triệu chứng nhẹ chỉ có gây đau bụng, khó tiêu, chán ăn, buồn nôn, táo bón, nhức đầu,.
Nhiễm giun tóc nặng và kéo dài có thể gây nhiễm trùng thứ phát và sa trực tràng do quá trình sa và loét trực tràng [6]. Thực trạng nhiễm giun truyền qua đất trên thế giói và Việt Nam 1. Trên thế giới Phân bố toàn cầu nhiễm giun sán truyền qua đất 10 Hình 1. Bản đồ phân bố các bệnh giun truyền qua đẩt (STH) của WHO Nguồn: WHO Geneva: [CTdatabank [57] Theo WHO, gan 2 tỷ người (tưong đưomg 25% dân số thế giới) bị nhiễm GTQĐ.
Các trường họp này chủ yếu phân bố ở các vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới như châu Mỹ, cận Saharan, Đông Nam Á, và Trung Quốc. Có khoảng gần 900 triệu trẻ em ở các lứa tuổi mầm non và học đường đang sinh sống ở các vùng có nguy cơ cao này có nhu cầu có nhu cầu về phòng ngừa và điều trị [57]. Giun đũa là loại nhiễm phổ biến nhất, Theo WHO (2011), tỷ lệ nhiễm giun đũa Châu Mĩ là 70% Châu Phi là 33%, cao nhất là ở Châu Á với 70% [54]. (2010) đã nghiên cứu tại 118 nước với hơn 6 nghìn địa điểm trên toàn thế giới.
Ket quả cho thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa tại Châu Á là 15,8%, Đông Á 11,1%, Trung Á 7,4%, Đông Nam Á 20,8% và Nam Á là 18,4% [40]. Nghiên cứu của Silver ZA (2018) về tỷ lệ nhiễm giun đũa ở Nam Á và Đông Nam Á được xác định với tỷ lệ chung là 18%. Theo tác giả, ở các dân tộc thiểu số, tỷ lệ nhiễm giun đũa cao 38% so với cộng đồng sinh sống tại nông thôn với tỷ lệ nhiễm giun 11 là 13% [49]. Trẻ em là đối tượng nhiễm giun đũa nhiều hơn do thường xuyên tiếp xúc với môi trường nhiễm thuận lợi của loại giun này.
Ở Ethiopia, tiến hành trong số 319 trẻ em học ở thị trấn Zarima từ ngày 1 tháng 4 đến ngày 25 tháng 5 năm 2009, tỷ lệ nhiễm giun đũa chiếm ưu thế với 22% [36]. Giun tóc cũng là loại nhiễm phố biến ở nhiều nơi trên thế giới.