Luận văn xác định thực trạng nhiễm giun đường ruột và một số yếu tố liên quan ở học sinh lớp 4 5 trường tiểu học yên hòa quận cầu giấy hà nội năm 2005

Nghiên cứu thực trạng nhiễm giun đường ruột và các yếu tố liên quan ở học sinh lớp 4, 5 tại trường tiểu học Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội năm 2005.

Chuyên ngành

Y Tế Công Cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2005

86
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

0.prefix. ĐẶT VẤN ĐỀ

0.prefix. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Lịch sử nghiên cứu bệnh giun đường ruột

1.2. Đặc điểm dịch tễ học của bệnh giun đường ruột

1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng nhiễm giun

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2. Thiết kế nghiên cứu

2.3. Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu nghiên cứu

2.4. Phương pháp thu thập số liệu

2.5. Chỉ tiêu nghiên cứu

2.6. Phương pháp xử lý số liệu

2.7. Hạn chế của nghiên cứu và cách khắc phục

2.8. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

3.2. Thực trạng nhiễm giun đường ruột của học sinh

3.3. Kiến thức, thái độ, thực hành của phụ huynh và học sinh về phòng chống giun

3.4. Một số yếu tố liên quan đến thực trạng nhiễm giun của học sinh

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN

6. CHƯƠNG 6: KHUYÊN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về thực trạng nhiễm giun đường ruột ở học sinh tiểu học Yên Hòa

Nhiễm giun đường ruột là một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, đặc biệt ở trẻ em. Tại trường tiểu học Yên Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội, tình trạng này đã được nghiên cứu vào năm 2005. Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm giun ở học sinh lớp 4 và 5 là 21%. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các biện pháp phòng chống hiệu quả.

1.1. Đặc điểm dịch tễ học của nhiễm giun đường ruột

Nhiễm giun đường ruột phổ biến ở các nước đang phát triển, đặc biệt là ở trẻ em. Tại Việt Nam, tỷ lệ nhiễm giun ở học sinh tiểu học miền Bắc lên tới 98,4%. Điều này cho thấy sự cần thiết phải nâng cao nhận thức về phòng chống nhiễm giun.

1.2. Tác hại của nhiễm giun đường ruột đối với học sinh

Nhiễm giun đường ruột gây ra nhiều tác hại cho sức khỏe, bao gồm suy dinh dưỡng, thiếu máu và chậm phát triển. Điều này ảnh hưởng lớn đến sự phát triển thể chất và trí tuệ của trẻ em.

II. Vấn đề và thách thức trong việc phòng chống nhiễm giun

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong việc phòng chống nhiễm giun, nhưng vẫn còn nhiều thách thức. Việc thiếu kiến thức và thực hành đúng về vệ sinh cá nhân là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng nhiễm giun cao ở học sinh.

2.1. Kiến thức và thái độ của phụ huynh về nhiễm giun

Nghiên cứu cho thấy kiến thức của phụ huynh về nhiễm giun còn hạn chế. Nhiều phụ huynh chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc tẩy giun định kỳ cho trẻ.

2.2. Thói quen sinh hoạt ảnh hưởng đến tình trạng nhiễm giun

Thói quen ăn uống không hợp vệ sinh, như ăn rau sống chưa rửa sạch và uống nước lã, là những yếu tố làm tăng nguy cơ nhiễm giun ở học sinh.

III. Phương pháp nghiên cứu và thu thập dữ liệu về nhiễm giun

Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp mô tả cắt ngang, với việc thu thập mẫu phân và phỏng vấn trực tiếp học sinh và phụ huynh. Phương pháp này giúp xác định tỷ lệ nhiễm giun và các yếu tố liên quan.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và chọn mẫu

Nghiên cứu được thực hiện trên 224 mẫu phân của học sinh lớp 4 và 5. Việc chọn mẫu được thực hiện ngẫu nhiên để đảm bảo tính đại diện.

3.2. Phương pháp thu thập số liệu

Số liệu được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp và bảng hỏi tự điền. Điều này giúp thu thập thông tin chính xác về tình trạng nhiễm giun và kiến thức của phụ huynh.

IV. Kết quả nghiên cứu về thực trạng nhiễm giun ở học sinh

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm giun ở học sinh lớp 4 và 5 là 21%, với mức độ nhiễm nhẹ và trung bình. Điều này cho thấy cần có các biện pháp can thiệp kịp thời.

4.1. Tỷ lệ nhiễm giun theo loại

Tỷ lệ nhiễm giun đũa là cao nhất, tiếp theo là giun tóc. Không có trường hợp nhiễm giun móc được ghi nhận trong nghiên cứu này.

4.2. Mối liên quan giữa kiến thức và tình trạng nhiễm giun

Nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa kiến thức của phụ huynh và tình trạng nhiễm giun của học sinh. Những phụ huynh có kiến thức tốt hơn thường có con cái ít bị nhiễm giun.

V. Giải pháp và khuyến nghị phòng chống nhiễm giun

Để giảm tỷ lệ nhiễm giun, cần có các biện pháp phòng chống hiệu quả. Việc nâng cao nhận thức của phụ huynh và học sinh về vệ sinh cá nhân là rất quan trọng.

5.1. Tăng cường giáo dục sức khỏe cho phụ huynh và học sinh

Cần tổ chức các buổi tuyên truyền về phòng chống nhiễm giun, giúp phụ huynh và học sinh hiểu rõ hơn về tác hại của nhiễm giun và cách phòng tránh.

5.2. Thực hiện tẩy giun định kỳ cho học sinh

Tẩy giun định kỳ cho học sinh là một biện pháp quan trọng để giảm tỷ lệ nhiễm giun. Cần có sự phối hợp giữa nhà trường và phụ huynh trong việc thực hiện điều này.

VI. Kết luận và triển vọng tương lai về phòng chống nhiễm giun

Nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng nhiễm giun đường ruột ở học sinh tiểu học Yên Hòa. Cần có các biện pháp can thiệp kịp thời để cải thiện tình hình này trong tương lai.

6.1. Tầm quan trọng của việc phòng chống nhiễm giun

Phòng chống nhiễm giun không chỉ giúp cải thiện sức khỏe cho học sinh mà còn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.

6.2. Hướng đi tương lai trong nghiên cứu và can thiệp

Cần tiếp tục nghiên cứu để theo dõi tình trạng nhiễm giun và đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp đã thực hiện.

14/07/2025
Luận văn xác định thực trạng nhiễm giun đường ruột và một số yếu tố liên quan ở học sinh lớp 4 5 trường tiểu học yên hòa quận cầu giấy hà nội năm 2005

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Lịch sử nghiên cứu bệnh giun dường ruót Tuy không thấy vết tích cúa giun sán trong những tầng địa chất cổ xưa và trong các hoá thạch do cău tạo của cơ thể giun không bển vững nhưng có thể khảng định giun sán là những ký sinh trùng có lịch sử xuất hiện rất sớm. Giun đũa tuy đã được để cặp từ lâu trong lịch sử y học và được Edward Tyson - một quý lộc người Anh người đầu tiên chính thức mỡ tả vào năm 1683 [43]. Ông đã thấy giun ở ruột người với hình dạng giông như giun ở đất. Sau đó các nhà y học Hy lạp Dioscoride, Cohimelle - thè' ký thứ nhất cũng mõ tà rất nhiều về giun đũa [54].

Ưỷ ban quốc tế gồm 66 thành viên của các nước đã chính thức xác nhân tên giun đũa trên danh mục động vật học là Ascaris lumbricodes [43]. Giun lóc được Roederes, Butter mỏ tà về hình dạng nãm 1761 và đặt tên là Trichurìs. Đến nãm 1941, các nhà chuyên gia ký sinh trùng Châu Mỹ thống nhâì cách gọi tên là Trichurís Trichiura [43], Năm 1843, Dubíni đã mô tả tỷ mỷ vể giun móc và dặt tên ỉà Anchylosioma duodenale. Sau đó nhiều tác giả khác ở Ai Cập cũng đã phát hiện giun móc trên người và mô tả tỉ mỉ hơn.

Với nhiều tên gọi khác nhau nhưng đến năm 1915 một Uỷ ban quốc tê' gổm 66 nhà khoa học thống nhất cách gọi tên giun móc là Ancylostoma duodenale trên danh mục động vật học [43]. Trải qua nhiều nãm nghiên cứu, đến thê' kỳ 19, những hiểu biết về giun sán càng ngày càng đẩy đù và hoàn chỉnh hơn.s Cobbold đã xuất bản tài liệu về giun sán ký sinh ở người và động vật. Ở Việt Nam, bệnh giun sán đã được biết từ lảu nhưng ỏ thời kỳ sơ khai chỉ có những kiến thức về thuốc điểu trị giun đũa và sán dây. Dưới thời Hảì Thượng Lãn Ông và Tuộ Tĩnh, bệnh giun sán đã được đề cập và mô tả.

Các bài thuốc chữa giun sán cũng đã được đề cập đến trong “Nam dược thần hiệu” [16,17], 5 Đầu thê' kỷ 20, các tác giả nhu Seguin (1905), Mouzels (1907), Léger, Malthìs (1909), P. Motai s (1920), Salamon Nevan và Maurriquand. đã thực hiện các cuộc điều tra giun sán đầu tiên ở Việt Nam. Năm 1911, Léger và Malthis công bô' cỏng trình điều tra cơ bản và toàn diện về các loài giun đường ruột ở miền Bắc Việt Nam.

Hàng nãm, tác già Braur cũng có những nghiên cứu vể tình hình nhiễm giun đường ruột ờ Việt Nam. Những nghiên cứu VỂ điều trị giun sán bàng thuốc Tây Y cũng được liến hành [17], Nâm 1936, Đặng Vãn Ngữ cũng đã tiến hành điều tra cơ bản các loài giun sán y học ở Việt Nam và đã nêu bât được tính chất nghiêm ưọng cua tình hình nhiễm giun sán ở người [17], Từ đó đền nay đã có hàng nghìn công trình nghiên cứu vể các bênh giun sán. Các cồng trình nghiên cứu từ trước đén nay lập trung vào các lĩnh vực như: - Nghiên cứu về dịch tẽ học, hình thể, bệnh học, đặc điểm sinh học, miên dịch học, lâm sàng, chẩn đoán, điều trị phản ánh được mức độ nhiẻm các loại giun dường ruộl theo các vùng dịch te, dản tộc, lứa tuồi, điẻu kiện lao động khác nhau, phương pháp chẩn doán và đĩeu trị nhiêm giun đường ruôl. - Nghiên cứu vể các biện pháp phòng chống bệnh giun sán ở Việt Nam, thí điểm mô hình phòng chống các bênh giun sán ở nước ta, áp dụng các biện pháp điểu trị kết hợp với truyền thông giáo dục sức khoe, vẻ sinh môi trường, vê sinh ãn uống, vệ sinh cá nhân, hiệu quả của việc lảy giun hàng loạt cho trẻ em và người lớn.

- Đặc biệt cấc nghiên cứu về bệnh giun truyền qua đất đểu tập trung vào các nghiên cứu điều tra cơ bản nhằm cung cấp cơ sở vững chắc cho việc đánh giá hiên trạng và nhu cầu can thiệp ở cộng đổng và điều tra theo dõi nhằm đánh giá hiệu quả của các chương trình phòng chông[33]. 6 Các linh vực chù yếu trong nghiên cứu bênh giun đường ruột ở trẻ em là; - Nghiên cứu trên trẻ em lứa tuổi lừ mẫu giáo đến dưới 15 tuổi, đặc biệt là lứa tuổi học sinh tiểu học. - Nghiên cứu về tình hình nhiễm giun chung ở tre em, phân bó dịch tể học. - NghiỂn cứu hiệu quả điều trị thuốc tẩy giun, đặc biệt hiệu quá của việc tẩy giun lại trường học, các biện pháp can thiệp, đặc biệt hiên nay bước đầu nghiên cứu việc lổng ghép với các chương trình dự án có lièn quan khác như cung cấp nước sạch và VÊ sinh môi trường, chương trình dinh dưỡng, phòng chống thiêu máu, chương trình sửc khoẻ học đường.

- Nghiên cứu ảnh hưởng của bệnh giun đường ruột đối với sức khoẻ tré em như ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng, thiếu máu, phát triển thể lực. phát triển tri tuệ.2 Đác điểm dịch tẻ học của bệnh giun dường ruột 1.1 Phán bô' dỊch tễ học Bệnh giun dường ruột có ở hầu hết các nước trên thế giới, đặc biệt ớ các nước chậm phát triến. Tuy nhiên, tý lệ cũng như cường độ nhiếm rất khác nhau giữa các vùng. Ở những vùng có khí hậu lạnh, mức sống của người dân cao và diều kiện vê sinh tốt thì tỷ lệ nhiêm giun rất thấp.

Ở những nước nghèo, vệ sinh môi trường Ihấp kém. mật độ dân sô' đông thì tỷ lê nhiễm giun rất cao. Các nước nằm trong vùng nhiệt đới có khí hâu râ't thuận lợi cho mầm bênh giun sán phát triển ờ ngoại cảnh. Nhiễm giun dũa cao chủ yếu ờ các nước châu Phi, châu Mỹ La tinh và châu Á do khí hậu nóng ẩm, điều kiện vê sinh và trinh dô dân trí thấp [ 15][38][2].

Nằm ừ khu vực nhiệt đới, khí hậu nóng và ẩm hầu như quanh năm, tình trạng vệ sinh mõi trường chưa tốt, Việt Nam là nước có nhiêu bệnh giun sán lưu hành với tỷ lẹ cao, đậc biệt là các bệnh giun truyển qua đất [33]. Ỏ Việt Nam, nhiểm giun đũa dứng đầu Irong các bệnh nhiễm giun truyền qua đất. Nhiễm giun đũa thay đổi theo tuổi và nghề nghiệp. Trẻ em lả lứa tuổi nhiễm giun đũa cao nhất.

Nông dân tiếp xúc với phân, đất cũng có tỷ lệ nhiẽni giun cao. 7 Giun tóc là loại giun phân bô rộng khắp trên thê' giới nhưng nói chung mức độ bệnh khác nhau tuỳ theo vùng. Do sinh thái giống như giun đũa nên phân bố của giun tóc tương tự như giun đũa. Những vùng có bệnh giun dũa đểu có bệnh giun tóc.

Những vùng đổng bàng dông người, chật chội, sử dụng phân người trong canh tác có tỷ lẻ nhiễm cao. Những vùng đồi núi thưa dân có tỷ lệ thấp hơn. Nhiễm giun tóc ờ mọi lứa tuổi nhưng có đặc điểm khác với giun đũa. Lứa tuổi nhỏ dưới 3 tuổi ít nhiễm vì có thể do giun tóc có mật độ khuyếch tấn ngoại cành thấp hơn so với giun đũa.

Sự phần bố nhiêm giun tóc không có những thay đổi theo giới. Nhiễm giun móc/mó phổ biến ở các nước vùng nhiệt đới và bán nhiệt dới, đặc biệt bệnh lan tràn phụ thuộc nhiều vào nghề nghiệp. Ở Việt Nam, theo kết quà diều tra sự ó nhiễm ấu Irùng giun móc/mỏ ở ngoại cảnh miển Bắc cho thấy chủ yê'u tập trung ờ vùng dồng bằng (100 Ỉ40 â'u trùng/gam đâì) [2]. Tý lệ người mắc bệnh phụ thuộc vào nghể nghiệp (cao nhất ớ vùng trồng rau và hoa màu), chất đất (vùng đất cát ven sõng và ven biển là vùng thuận lợi cho ấu trùng phát triển), vấn dể vệ sinh môi trường (tình trạng hố xí, sử dụng phân tươi bón cho hoa màu).2 Những yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng nhiẻm giun Trúng giun đũa, lóc và móc không có khả năng phát triển trong cơ thể người thành giun trưởng thành, muốn lây truyền được, chúng phải có một giai đoạn phát triển ở ngoại cảnh.

Các yếu lô' khách quan là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển cửa trứng giun ở ngoại cảnh là nhiẺt độ, độ ẩm, ô xy, độ pH của đất. Ngoài ra yếu tố chủ quan từ phía con người cũng tác động mạnh đến sự phân bố của tinh trạng nhiễm giun. Nhiệt độ thuận lợi cho trúng giun đũa phát triển là 24 - 25° c. Với nhiệt độ này, đôì với trứng giun đũa sau 12-25 ngày.

Nhiệt độ phát triển thuận lợi nhất để trứng giun tóc có ấu trùng sau 17-30 ngày gây nhìẽm trong trứng là 25 - 30° c. Gặp nhiệt độ thích hợp từ 20 - 25° c với độ ẩm và o xy thích hợp, trứng giun móc sẽ nờ ra ẩu trùng sau 24 giờ. Độ ẩm từ 80% trờ lên tà điều kiện tốt cho trứng giun phát triển. 8 Ô XV là yếu tô' cần thiết để trứng giun phút triển, khi trứng khi bị ngập sâu dưới nước (>ỉm chiểu sâu) sẽ bị hỏng.

Vì vậy, trong hớ xí nước, trứng giun, â'u trùng giun sẽ bị hỏng và chết [2]. Chất đất cũng ảnh hưởng tới sự phát triển của ấu trùng giun như vùng đất cát, ven biển, hầm mỏ và các đường hầm nơi mà nhiệt đõ và độ ẩm cao râĩ thuận lợi cho ấu trùng, trứng giun phát triển [2]. Chính vì vậy những vùng có điều kiên địa lý, khí hâu khác nhau thì tỷ lệ nhiẽm giun khác nhau. Mật độ dân số cao ở thành phố, thị trấn, đổng bàng cũng tạo điều kiên thuận lợi lây lan bệnh giun sán giữa người và người [15].

Từ môi trường, trứng hoặc ấu trùng giun có vào được cơ thể con người hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố liên quan đến đời sống sinh hoạt của con người, Tỳ lệ người nhiễm giun sẽ giảm đi rất nhiều nếu không bị tái nhiễm vì giun có thời gian sống ờ ruột người một thời gian nhất định [2][24].Việc tái nhiễm giun bị ảnh hương bởi các yếu tô' lừ con người đó là tập quán, thói quen, ý thức vê sinh trong nhân dán. Bẻn cạnh ý thức, tập quán của người dân ỉà việc quản lý phân người chưa chặt chẽ: Người dân sử dụng phãn người tưới bón cây trồng, trong khi đó phân chưa được ủ kỹ hay chưa được xừ lý. NhiỂu nơi người dân chưa sử dụng hô' xí hợp vệ sinh làm nguổn reo rắc trứng giun ra môi trường. Thói quen phóng uê' bừa bãi ra hồ, ao, đất làm phát tán một khới lượng lớn mầm bệnh ra ngoại cảnh, Ngoài ra một sô' thói quen của người dân cũng ảnh hưởng đên nhiẻm giun như ăn rau quả sống chưa rừa sạch, uống nước lã, không rửa tay trước khi ăn và sau khi đại tiên, không bảo hộ lao động khi tiếp xúc với đất, phân người.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Thực trạng nhiễm giun đường ruột ở học sinh tiểu học Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội năm 2005" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình nhiễm giun đường ruột trong cộng đồng học sinh tiểu học tại khu vực này. Nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ nhiễm giun cao, cùng với các yếu tố liên quan như điều kiện vệ sinh và thói quen ăn uống của học sinh. Những thông tin này không chỉ giúp nâng cao nhận thức về vấn đề sức khỏe mà còn khuyến khích các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thực trạng nhiễm giun truyền qua đất và một số yếu tố liên quan của học sinh tiểu học tại tỉnh quảng ninh năm 2018, nơi cung cấp thông tin về tình trạng nhiễm giun ở một khu vực khác. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thực trạng nhiễm giun đường ruột và một số yếu tố liên quan của khối học sinh lớp 4 thuộc thị trấn lương sơn tỉnh hoà bình năm 2006 cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tình hình nhiễm giun ở học sinh lớp 4 tại một địa phương khác. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thực trạng nhiễm giun ở học sinh kiến thức thái độ thực hành của học sinh lớp 3 và phụ huynh trong phòng chống nhiễm giun đường ruột tại huyện chương mỹ tỉnh hà tây năm 2004 sẽ cung cấp cái nhìn về kiến thức và thái độ của phụ huynh trong việc phòng chống nhiễm giun. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề nhiễm giun đường ruột trong cộng đồng học sinh.