Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Lịch sử nghiên cứu bệnh giun dường ruót Tuy không thấy vết tích cúa giun sán trong những tầng địa chất cổ xưa và trong các hoá thạch do cău tạo của cơ thể giun không bển vững nhưng có thể khảng định giun sán là những ký sinh trùng có lịch sử xuất hiện rất sớm. Giun đũa tuy đã được để cặp từ lâu trong lịch sử y học và được Edward Tyson - một quý lộc người Anh người đầu tiên chính thức mỡ tả vào năm 1683 [43]. Ông đã thấy giun ở ruột người với hình dạng giông như giun ở đất. Sau đó các nhà y học Hy lạp Dioscoride, Cohimelle - thè' ký thứ nhất cũng mõ tà rất nhiều về giun đũa [54].
Ưỷ ban quốc tế gồm 66 thành viên của các nước đã chính thức xác nhân tên giun đũa trên danh mục động vật học là Ascaris lumbricodes [43]. Giun lóc được Roederes, Butter mỏ tà về hình dạng nãm 1761 và đặt tên là Trichurìs. Đến nãm 1941, các nhà chuyên gia ký sinh trùng Châu Mỹ thống nhâì cách gọi tên là Trichurís Trichiura [43], Năm 1843, Dubíni đã mô tả tỷ mỷ vể giun móc và dặt tên ỉà Anchylosioma duodenale. Sau đó nhiều tác giả khác ở Ai Cập cũng đã phát hiện giun móc trên người và mô tả tỉ mỉ hơn.
Với nhiều tên gọi khác nhau nhưng đến năm 1915 một Uỷ ban quốc tê' gổm 66 nhà khoa học thống nhất cách gọi tên giun móc là Ancylostoma duodenale trên danh mục động vật học [43]. Trải qua nhiều nãm nghiên cứu, đến thê' kỳ 19, những hiểu biết về giun sán càng ngày càng đẩy đù và hoàn chỉnh hơn.s Cobbold đã xuất bản tài liệu về giun sán ký sinh ở người và động vật. Ở Việt Nam, bệnh giun sán đã được biết từ lảu nhưng ỏ thời kỳ sơ khai chỉ có những kiến thức về thuốc điểu trị giun đũa và sán dây. Dưới thời Hảì Thượng Lãn Ông và Tuộ Tĩnh, bệnh giun sán đã được đề cập và mô tả.
Các bài thuốc chữa giun sán cũng đã được đề cập đến trong “Nam dược thần hiệu” [16,17], 5 Đầu thê' kỷ 20, các tác giả nhu Seguin (1905), Mouzels (1907), Léger, Malthìs (1909), P. Motai s (1920), Salamon Nevan và Maurriquand. đã thực hiện các cuộc điều tra giun sán đầu tiên ở Việt Nam. Năm 1911, Léger và Malthis công bô' cỏng trình điều tra cơ bản và toàn diện về các loài giun đường ruột ở miền Bắc Việt Nam.
Hàng nãm, tác già Braur cũng có những nghiên cứu vể tình hình nhiễm giun đường ruột ờ Việt Nam. Những nghiên cứu VỂ điều trị giun sán bàng thuốc Tây Y cũng được liến hành [17], Nâm 1936, Đặng Vãn Ngữ cũng đã tiến hành điều tra cơ bản các loài giun sán y học ở Việt Nam và đã nêu bât được tính chất nghiêm ưọng cua tình hình nhiễm giun sán ở người [17], Từ đó đền nay đã có hàng nghìn công trình nghiên cứu vể các bênh giun sán. Các cồng trình nghiên cứu từ trước đén nay lập trung vào các lĩnh vực như: - Nghiên cứu về dịch tẽ học, hình thể, bệnh học, đặc điểm sinh học, miên dịch học, lâm sàng, chẩn đoán, điều trị phản ánh được mức độ nhiẻm các loại giun dường ruộl theo các vùng dịch te, dản tộc, lứa tuồi, điẻu kiện lao động khác nhau, phương pháp chẩn doán và đĩeu trị nhiêm giun đường ruôl. - Nghiên cứu vể các biện pháp phòng chống bệnh giun sán ở Việt Nam, thí điểm mô hình phòng chống các bênh giun sán ở nước ta, áp dụng các biện pháp điểu trị kết hợp với truyền thông giáo dục sức khoe, vẻ sinh môi trường, vê sinh ãn uống, vệ sinh cá nhân, hiệu quả của việc lảy giun hàng loạt cho trẻ em và người lớn.
- Đặc biệt cấc nghiên cứu về bệnh giun truyền qua đất đểu tập trung vào các nghiên cứu điều tra cơ bản nhằm cung cấp cơ sở vững chắc cho việc đánh giá hiên trạng và nhu cầu can thiệp ở cộng đổng và điều tra theo dõi nhằm đánh giá hiệu quả của các chương trình phòng chông[33]. 6 Các linh vực chù yếu trong nghiên cứu bênh giun đường ruột ở trẻ em là; - Nghiên cứu trên trẻ em lứa tuổi lừ mẫu giáo đến dưới 15 tuổi, đặc biệt là lứa tuổi học sinh tiểu học. - Nghiên cứu về tình hình nhiễm giun chung ở tre em, phân bó dịch tể học. - NghiỂn cứu hiệu quả điều trị thuốc tẩy giun, đặc biệt hiệu quá của việc tẩy giun lại trường học, các biện pháp can thiệp, đặc biệt hiên nay bước đầu nghiên cứu việc lổng ghép với các chương trình dự án có lièn quan khác như cung cấp nước sạch và VÊ sinh môi trường, chương trình dinh dưỡng, phòng chống thiêu máu, chương trình sửc khoẻ học đường.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của bệnh giun đường ruột đối với sức khoẻ tré em như ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng, thiếu máu, phát triển thể lực. phát triển tri tuệ.2 Đác điểm dịch tẻ học của bệnh giun dường ruột 1.1 Phán bô' dỊch tễ học Bệnh giun dường ruột có ở hầu hết các nước trên thế giới, đặc biệt ớ các nước chậm phát triến. Tuy nhiên, tý lệ cũng như cường độ nhiếm rất khác nhau giữa các vùng. Ở những vùng có khí hậu lạnh, mức sống của người dân cao và diều kiện vê sinh tốt thì tỷ lệ nhiêm giun rất thấp.
Ở những nước nghèo, vệ sinh môi trường Ihấp kém. mật độ dân sô' đông thì tỷ lê nhiễm giun rất cao. Các nước nằm trong vùng nhiệt đới có khí hâu râ't thuận lợi cho mầm bênh giun sán phát triển ờ ngoại cảnh. Nhiễm giun dũa cao chủ yếu ờ các nước châu Phi, châu Mỹ La tinh và châu Á do khí hậu nóng ẩm, điều kiện vê sinh và trinh dô dân trí thấp [ 15][38][2].
Nằm ừ khu vực nhiệt đới, khí hậu nóng và ẩm hầu như quanh năm, tình trạng vệ sinh mõi trường chưa tốt, Việt Nam là nước có nhiêu bệnh giun sán lưu hành với tỷ lẹ cao, đậc biệt là các bệnh giun truyển qua đất [33]. Ỏ Việt Nam, nhiểm giun đũa dứng đầu Irong các bệnh nhiễm giun truyền qua đất. Nhiễm giun đũa thay đổi theo tuổi và nghề nghiệp. Trẻ em lả lứa tuổi nhiễm giun đũa cao nhất.
Nông dân tiếp xúc với phân, đất cũng có tỷ lệ nhiẽni giun cao. 7 Giun tóc là loại giun phân bô rộng khắp trên thê' giới nhưng nói chung mức độ bệnh khác nhau tuỳ theo vùng. Do sinh thái giống như giun đũa nên phân bố của giun tóc tương tự như giun đũa. Những vùng có bệnh giun dũa đểu có bệnh giun tóc.
Những vùng đổng bàng dông người, chật chội, sử dụng phân người trong canh tác có tỷ lẻ nhiễm cao. Những vùng đồi núi thưa dân có tỷ lệ thấp hơn. Nhiễm giun tóc ờ mọi lứa tuổi nhưng có đặc điểm khác với giun đũa. Lứa tuổi nhỏ dưới 3 tuổi ít nhiễm vì có thể do giun tóc có mật độ khuyếch tấn ngoại cành thấp hơn so với giun đũa.
Sự phần bố nhiêm giun tóc không có những thay đổi theo giới. Nhiễm giun móc/mó phổ biến ở các nước vùng nhiệt đới và bán nhiệt dới, đặc biệt bệnh lan tràn phụ thuộc nhiều vào nghề nghiệp. Ở Việt Nam, theo kết quà diều tra sự ó nhiễm ấu Irùng giun móc/mỏ ở ngoại cảnh miển Bắc cho thấy chủ yê'u tập trung ờ vùng dồng bằng (100 Ỉ40 â'u trùng/gam đâì) [2]. Tý lệ người mắc bệnh phụ thuộc vào nghể nghiệp (cao nhất ớ vùng trồng rau và hoa màu), chất đất (vùng đất cát ven sõng và ven biển là vùng thuận lợi cho ấu trùng phát triển), vấn dể vệ sinh môi trường (tình trạng hố xí, sử dụng phân tươi bón cho hoa màu).2 Những yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng nhiẻm giun Trúng giun đũa, lóc và móc không có khả năng phát triển trong cơ thể người thành giun trưởng thành, muốn lây truyền được, chúng phải có một giai đoạn phát triển ở ngoại cảnh.
Các yếu lô' khách quan là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển cửa trứng giun ở ngoại cảnh là nhiẺt độ, độ ẩm, ô xy, độ pH của đất. Ngoài ra yếu tố chủ quan từ phía con người cũng tác động mạnh đến sự phân bố của tinh trạng nhiễm giun. Nhiệt độ thuận lợi cho trúng giun đũa phát triển là 24 - 25° c. Với nhiệt độ này, đôì với trứng giun đũa sau 12-25 ngày.
Nhiệt độ phát triển thuận lợi nhất để trứng giun tóc có ấu trùng sau 17-30 ngày gây nhìẽm trong trứng là 25 - 30° c. Gặp nhiệt độ thích hợp từ 20 - 25° c với độ ẩm và o xy thích hợp, trứng giun móc sẽ nờ ra ẩu trùng sau 24 giờ. Độ ẩm từ 80% trờ lên tà điều kiện tốt cho trứng giun phát triển. 8 Ô XV là yếu tô' cần thiết để trứng giun phút triển, khi trứng khi bị ngập sâu dưới nước (>ỉm chiểu sâu) sẽ bị hỏng.
Vì vậy, trong hớ xí nước, trứng giun, â'u trùng giun sẽ bị hỏng và chết [2]. Chất đất cũng ảnh hưởng tới sự phát triển của ấu trùng giun như vùng đất cát, ven biển, hầm mỏ và các đường hầm nơi mà nhiệt đõ và độ ẩm cao râĩ thuận lợi cho ấu trùng, trứng giun phát triển [2]. Chính vì vậy những vùng có điều kiên địa lý, khí hâu khác nhau thì tỷ lệ nhiẽm giun khác nhau. Mật độ dân số cao ở thành phố, thị trấn, đổng bàng cũng tạo điều kiên thuận lợi lây lan bệnh giun sán giữa người và người [15].
Từ môi trường, trứng hoặc ấu trùng giun có vào được cơ thể con người hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố liên quan đến đời sống sinh hoạt của con người, Tỳ lệ người nhiễm giun sẽ giảm đi rất nhiều nếu không bị tái nhiễm vì giun có thời gian sống ờ ruột người một thời gian nhất định [2][24].Việc tái nhiễm giun bị ảnh hương bởi các yếu tô' lừ con người đó là tập quán, thói quen, ý thức vê sinh trong nhân dán. Bẻn cạnh ý thức, tập quán của người dân ỉà việc quản lý phân người chưa chặt chẽ: Người dân sử dụng phãn người tưới bón cây trồng, trong khi đó phân chưa được ủ kỹ hay chưa được xừ lý. NhiỂu nơi người dân chưa sử dụng hô' xí hợp vệ sinh làm nguổn reo rắc trứng giun ra môi trường. Thói quen phóng uê' bừa bãi ra hồ, ao, đất làm phát tán một khới lượng lớn mầm bệnh ra ngoại cảnh, Ngoài ra một sô' thói quen của người dân cũng ảnh hưởng đên nhiẻm giun như ăn rau quả sống chưa rừa sạch, uống nước lã, không rửa tay trước khi ăn và sau khi đại tiên, không bảo hộ lao động khi tiếp xúc với đất, phân người.