Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu. Chương 2: Tổ chức nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Kết quả nghiên cứu. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan về vấn đề nghiên cứu lo âu trên thế giới và ở Việt Nam Lo âu là cảm xúc thường gặp của con người với nhiều mức độ khác nhau. Sự trải nghiệm cảm xúc này hầu hết là do đáp ứng với các kích thích của môi trường và thường chỉ là những biểu hiện nhất thời. Tuy nhiên cũng có nhiều người khi đối mặt với những khó khăn, nguy hiểm, áp lực…của cuộc sống đã lo âu quá mức trở thành rối loạn lo âu [23]. Lo âu quá mức gây ảnh hưởng đến các chức năng của con người: chức năng học tập, giao tiếp…Vì vậy trong suốt lịch sử phát triển của khoa học tâm lý, y học, lo âu là đối tượng được nhiều nhà khoa học nghiên cứu.
Do cách tiếp cận hoàn cảnh nghiên cứu khác nhau nên nghiên cứu lo âu cũng rất đa dạng. Trên thế giới Trên thế giới, lo âu nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và thực hành. Các nghiên cứu tậ p trung vào các hướng nghiên cứu về lo âu như khái niệm, biểu hiện, phân loại và nguyên nhân. Hướng nghiên cứu về khái niệm Lo âu Khái niệm lo âu được biết đến rất sớm từ thời Hy Lạp cổ đại, người Hy Lạp cổ dùng từ “melancholia” (sự u sầu) để mô tả lo âu.
Người La Mã thuộc thời Cicero dùng từ “anxietas” để biểu lộ sự sợ hãi, e ngại và kèm theo là cảm giác đè ép ở ngực. Trong suốt thời gian này lo âu được nói nhiều nhưng chủ yếu trong lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, văn học. Lo âu được hiểu là sự sầu muộn, sự tương tư, và người ta tìm đến nhà thờ để giải quyết tâm trạng này [26]. Năm 1671, Richard Younge cho rằng lo âu chính là trạng thái phiền muộn khổ sở với mọi điều trong cuộc sống, lo âu là sự không bình thường của tâm thần [23].
13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đến năm 1844, Kerkgard (Đan Mạch) lần đầu tên dùng thuật ngữ Angest để chỉ trạng thái lo âu, [12; tr. Hướng nghiên cứu về biểu hiện của rối loạn lo âu, phải kể đến công trình của ông Robert Burton năm 1621, trong cuốn sách The Anatomy of Melancholy đã cho rằng có mối liên quan chặt chẽ giữa cảm giác lo lắng, sợ hãi với các biểu hiện cơ thể như khó thở, mạch nhanh, đau tức ngực, chóng mặt [23Error! Reference source not found. Tiếp đó, vào năm 1871 Jacob DaCosta đã mô tả các triệu chứng tim mạch mạn tính mà không có tổn thương thực thể và có liên quan đến những than phiền về mệt mỏi, lo lắng và buồn phiền. DaCosta đã mô tả các triệu chứng lo âu gọi là trạng thái tim bị kích thích [12,tr.
Vào nửa sau của thế kỷ 19, các nhà tâm thần học Pháp và Đức bắt đầu quan tâm đến yếu tố sinh học trong các rối loạn tâm thần. Khi nghiên cứu về các biểu hiện của lo âu, Benedict Morel (1809 –1873) đã khẳng định rằng có mối liên quan chặt chẽ giữa lo âu với các triệu chứng cơ thể và sự thay đổi ở hệ thần kinh tự trị [26]. Đến năm 1894, trong học thuyết của Freud về chứng suy nhược thần kinh lần đầu tiên khái niệm lo âu được tiếp cận và được làm sáng tỏ về mặt bản chất. Freud đã tách ra 1 hội chứng riêng biệt gọi là “tâm căn lo âu” (anxiety neurosis) từ suy nhược thần kinh.
Vào thời điểm đó, rối loạn phân ly và rối loạn nghi bệnh được xếp vào suy nhược thần kinh và được cho là bệnh lý tâm thần, còn tình trạng hoảng sợ có kèm lo âu - theo Freud có liên quan đến những yếu tố sinh học cơ thể [26]. Tuy không có bằng chứng khoa học xác đáng, nhưng học thuyết này cũng làm sáng tỏ thêm về bản chất bên trong của lo âu và thể hiện một cách nhìn mới về lâm sàng. Quan điểm về bệnh học này đã để lại ảnh hưởng trong một thời gian dài những năm đầu thế kỷ XXI. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hướng nghiên cứu về phân loại rối loạn lo âu được nhiều nhà tâm lý quan tâm và đưa ra các cách phân loại khác nhau: Năm 1960, khi bàn về lo âu và rối loạn lo âu, Donald Klein đề nghị chia ra hai thực thể khác nhau là rối loạn hoảng loạn và lo âu lan tỏa mãn tính [12; 125].
Theo bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 8 (ICD8, 1968) tổ chức Y tế thế giới cho rằng, lo âu được xếp vào lo âu tâm căn (tức là bệnh do căn nguyên tâm lí). Bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 9, (ICD9, 1978), mặc dù đã có nhiều tiến bộ, nhiều thay đổi trong bảng phân loại, nhưng họ vẫn xếp các trạng thái lo âu vào các rối loạn tâm căn, tuy nhiên bắt đầu theo hướng mô tả các triệu chứng thuần túy về các mức độ khác nhau của các rối loạn lo âu. Bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 [32,tr.116] đã ghi nhận sự kết hợp quan trọng của các rối loạn này với các nguyên nhân tâm lí. Rối loạn lo âu được xếp vào các rối loạn tâm căn có liên quan đến stress và dạng cơ thể.
Nhìn chung các nghiên cứu kể trên đã đề cập đến một số cách phân loại rối loạn lo âu. Tuy nhiên việc phân loại đó chưa thực sự cụ thể. Bởi lẽ RLLA còn liên quan đến nhiều vấn đề khác như: Biểu hiện cơ thể, nhận thức, cảm xúc, các nguyên nhân. Ở Việt Nam Trước những năm 90, ở Việt Nam chưa có nhiều công trình nghiên cứu về rối loạn lo âu một cách độc lập, chuyên biệt.
Từ sau năm 1987 đến nay đã có một số nghiên cứu về sức khỏe tâm thần ở trẻ em Việt Nam. Tuy nhiên các nghiên cứu đó mới chỉ diễn ra trên phạm vi hẹp mà chưa diễn ra với quy mô toàn quốc [9, tr. Các nghiên cứu tập trung vào tìm hiểu tỷ lệ rối loạn lo âu ở các nhóm đối tượng khác nhau. Theo bác sĩ Hoàng Cẩm Tú, đáng kể nhất là cuộc nghiên cứu của ngành tâm thần về rối nhiễu hành vi ở trẻ em.
Từ đó đến 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nay, con số trung bình 3,4% trẻ em có biểu hiện rối nhiễu hành vi trở thành con số độc nhất mà ngành tâm thần vẫn công bố trong một số hội thảo. Nghiên cứu những biểu hiện rối loạn tâm lí trẻ em chỉ diễn ra lẻ tẻ ở một vài địa phương trong một thời điểm nhất định. Tìm hiểu vấn đề này chúng tôi đã thu được những số liệu như sau ở Việt Nam: - Nghiên cứu của Trần Viết Nghị (1994) cho thấy 75% bệnh nhân tâm căn nghi bệnh có lo âu sợ hãi [13]. - Trong nghiên cứu của Nguyễn Công Khanh sử dụng thang đánh giá lo âu Spiebeger trên 503 học sinh cấp II thấy có 17,65% - 19,2% học sinh có trải qua biểu hiện của RLLA [7].
- Theo Bác sĩ Ngô Thanh Hồi - Giám đốc Bệnh viện Tâm thần ban ngày Mai Hương trong một cuộc khảo sát gần đây đưa ra con số, gần 20% trẻ dưới 16 tuổi có vấn đề sức khỏe tâm thần [4]. - Còn theo một số tài liệu của Bệnh viện tâm thần trung ương, năm 2005,trong số gần 5000 người có biểu hiện “bất bình thường” đến khám thì có 30% là học sinh, sinh viên. Tỉ lệ này ở một số trường học là 20% học sinh lo lắng và có biểu hiện rối loạn tâm trí. Như vậy, với những số liệu nhỏ lẻ mà chúng tôi tìm hiểu được thì hiện nay, tỷ lệ rối loạn lo âu ở lứa tuổi học sinh là khá cao.
Gần đây, có một số công trình nghiên cứu của các tác giả đã đi sâu nghiên cứu về nguyên nhân, các yếu tố ảnh hưởng hay một số biện pháp trị liệu rối loạn lo âu ở trẻ em như: Tác giả Nguyễn Thị Hồng Thúy trong luận văn thạc sĩ “Ảnh hưởng của một số yếu tố tâm lý đến rối loạn lo âu của trẻ em”, đã chẩn đoán và trị liệu cho 42 trẻ em từ 7 – 15 tuổi có RLLA đến khám tại khoa Tâm bệnh - viện nhi Quốc Gia từ tháng 8/2001 đến tháng 8/2002. Tác giả đã đưa ra rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến RLLA của các em như: RLLA có liên quan đến gia đình, RLLA có liên quan đến học tập, RLLA có liên quan đến môi trường xã hội [19]. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu một số nguyên nhân gây ra rối loạn lo âu ở học sinh trung học phổ thông”, tác giả Nguyễn Hằng Phương cho biết: trong số 600 khách thể nghiên cứu thì có 130 em RLLA, chiếm 21,66%. Và cũng đưa ra bốn nhóm nguyên nhân chính gây ra RLLA của học sinh là nhóm nguyên nhân liên quan đến học tập, nhóm nguyên nhân liên quan tới gia đình, nhóm nguyên nhân liên quan đến quan hệ xã hội, nhóm nguyên nhân liên quan tới bản thân học sinh.
[16] Nghiên cứu về trị liệu lo âu ở trẻ em, phải kể đến nhóm tác giả: Trần Thành Nam, Đặng Hoàng Minh, Nguyễn Thị Hồng Thúy, Cao Vũ Hùng với đề tài: “Bước đầu áp dụng mô hình trị liệu nhận thức hành cho trẻ em có rối loạn lo âu‟‟. Nghiên cứu đã lựa chọn 20 trẻ được chẩn đoán là rối loạn lo âu để điều trị bằng xây dựng mô hình hành vi - nhận thức. Sau 8 buổi làm việc nhóm tác giả công bố: có 11 trẻ cùng gia đình tuân thủ đầy đủ cam kết, 9 trẻ cùng gia đình không tuân thủ đầy đủ cam kết và kết quả là thang điểm CBCL của trẻ đã giảm hẳn, trẻ hết rối loạn lo âu theo chuẩn đoán của DSM IV [20]. Trong đề tài: “Tác động của trị liệu hành vi - nhận thức đến học sinh trung học phổ thông có rối loạn lo âu dựa trên định hình trường hợp” tác giả Huỳnh Hồ Ngọc Anh đã lựa chọn 2 trong số 15 học sinh có điểm lo âu từ 40 đến 55 để định hình trường hợp và trị liệu hành vi - nhận thức.
Kết quả cho thấy các em đều giảm lo âu rõ rệt và có được công cụ để đương đầu với lo âu trong tương lai.