Chương 1: Thực trạng hàng hóa của Trung Quốc tại Việt Nam từ năm 2005 đến nay. Chương 2: Sự ảnh hưởng của hàng hóa Trung Quốc đối với nền kinh tế Việt Nam. Chương 3: Khảo sát về tình hình lựa chọn các mặt hàng của người tiêu dùng tại thành phố Biên Hòa và giải pháp cho hàng Việt. Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục 5 CHƢƠNG 1: THỰC TRẠNG HÀNG HÓA CỦA TRUNG QUỐC TẠI VIỆT NAM TỪ NĂM 2005 ĐẾN NAY 1.1 Tình hình nhập khẩu hàng hóa của Trung Quốc tại Việt Nam 1.1 Tình hình nhập khẩu hàng hóa tại thị trƣờng Việt Nam Theo báo cáo của Bộ Công Thương, tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong 9 tháng đầu năm 2012 ước đạt 83,75 tỷ USD, tăng 6,6% so với cùng kỳ năm 2011.
Trước tình hình đó, có nhiều cảnh báo cho rằng việc phụ thuộc quá lớn vào một thị trường nhập khẩu nào đó sẽ gặp rất nhiều rủi ro. Nếu như trong quá trình nhập khẩu gặp trục trặc, đặc biệt là trong bối cảnh tình hình kinh tế Việt Nam hiện nay, hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc có tới 85% là nguyên liệu đầu vào cho sản xuất trong nước và phục vụ gia công xuất khẩu. Tính tới thời điểm 5 tháng đầu của năm 2013, thì đã có bốn nhóm hàng nhập khẩu từ Trung Quốc đạt đến kim ngạch trên 1 tỷ USD như là: Máy móc, thiết bị phụ tùng 2,25 tỷ USD; Điện thoại và linh kiện 2,15 tỷ USD; Máy vi tính, điện tử 1,79 tỷ USD; Vải may mặc 1,47 tỷ USD; Sắt thép 1,02 tỷ USD. Từ sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì tình hình nhập khẩu tăng nhanh.
Đặc biệt là nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc vẫn được đánh giá là tăng nhanh nhất.1 Tốc độ tăng kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng của Trung Quốc từ năm 2007 - 2009 (ĐVT: Triệu USD) Năm Năm Năm Năm 2009 2009 so 2008 so 2007 so Mặt hàng (triệu 2008 2007 2006 USD) (%) (%) (%) Tổng kim ngạch nhập khẩu của 69.949 -13,34 28,77 39,63 cả nước Tổng kim ngạch nhập khẩu từ 16.441 5,04 25,20 69,15 Trung Quốc Máy móc, thiết bị, dụng cụ, 4.155 10,24 57,45 99,50 phụ tùng Các loại vải 1.566 1,41 14,65 50,38 Máy vi tính, sản phẩm điện tử và 1.464 123,66 16,39 112,90 linh kiện Xăng dầu các loại 1.290 189,21 -3,99 -16,33 Sắt thép các loại 816 -64,67 -1,13 80,16 Phân bón các loại 596 -17,21 22,35 96,97 Nguyên phụ liệu dệt may, da giày 407 13,01 6,25 11,34 Hóa chất 399 -13,94 52,82 48,88 Sản phẩm từ sắt thép 387 Linh kiện phụ tùng ôtô 314 6,69 56,77 122,08 Sản phẩm hóa chất 309 16,57 20,82 53,10 Sản phẩm từ chất dẻo 235 7 Thuốc trừ sâu và nguyên liệu 202 0,93 18,15 42,43 Khí đốt hóa lỏng 201 Hàng rau quả 169 Ôtô nguyên chiếc các loại 153 -40,71 56,42 620,14 Kim loại thường khác 145 -24,76 19,72 54,51 Thức ăn gia súc và nguyên liệu 141 42,57 42,71 84,41 Dây điện và dây cáp điện 136 Chất dẻo nguyên liệu 135 10,94 25,35 62,68 Linh kiện phụ tùng xe máy 134 56,22 -17,48 2,35 Gỗ và sản phẩm gỗ 120 -7.34 3,71 56,79 Sợi các loại 116 -4,04 27,27 29,70 Sản phẩm từ giấy 80 Nguyên phụ liệu thuốc lá 75 171,14 36,05 7,59 Nguyên phụ liệu dược phẩm 66 36,55 -0,15 36,62 Sản phẩm từ cao su 57 Sản phẩm từ kim loại thường khác 54 Sản phẩm khác từ dầu mỏ 50 Giấy các loại 46 -20,52 17,96 75,60 “Nguồn: Tổng cục Hải quan” 8 1.2 Tình hình kinh tế thế giới và đánh giá thị phần hàng hóa Trung Quốc tại thị trƣờng trong nƣớc Tình hình kinh tế thế giới Kinh tế thế giới hiện nay có nhiều sự biến đổi lớn, nhưng giá cả, việc làm nhìn chung về cơ bản vẫn tăng trưởng ổn định. Sự phát triển của ngành dịch vụ tiếp tục được đẩy nhanh. Trong bối cảnh kinh tế xã hội ngày càng phát triển, đã tạo tiền đề cho nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng và chịu tác động trực tiếp của nền kinh tế thế giới. Những lĩnh vực chịu sự tác động chính là tăng truởng kinh tế và cải thiện môi trường kinh doanh dưới sức ép của cạnh tranh quốc tế, lạm phát, nhập siêu, thị trường chứng khoán, lao động và việc làm.
Tuy nhiên Việt Nam vẫn giữ được môi trường an ninh, chính trị ổn định. Đánh giá thị phần hàng hóa Trung Quốc tại thị trƣờng trong nƣớc Kể từ khi bình thường hóa quan hệ cho đến nay, mối quan hệ hữu nghị hợp tác Việt Nam - Trung Quốc ngày càng phát triển nhanh chóng và sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực, đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho cả hai bên. Hai bên đã khai thông đường hàng không, đường biển, đường bộ, đường sắt và tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu và trao đổi hàng hóa. Bên cạnh đó, quan hệ thương mại giữa Việt Nam - Trung Quốc đã có từ lâu đời và có nhiều nét tương đồng về kinh tế, văn hóa và xã hội.
Cùng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, với những quan hệ kinh tế song phương và đa phương mà hai nước tham gia, đã giúp quan hệ kinh tế - thương mại giữa Việt Nam - Trung Quốc trong những năm gần đây phát triển mạnh mẽ. Tính tới thời điểm tháng 7 năm 2013, thì trị giá của hàng hóa có nguồn gốc xuất xứ từ Trung Quốc nhập khẩu vào Việt Nam lên tới 3,3 tỷ USD. Trong đó có tới năm nhóm hàng Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc có kim ngạch vượt mức 1 tỷ USD như sau: Máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng; Điện thoại các loại và linh kiện; Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; Vải các loại; Sắt thép các loại. 9 Trung Quốc chính thức trở thành thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam từ những năm 2005 trở lại đây.2 Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam - Trung Quốc từ năm 2005 – 2009 “Nguồn: Tổng cục Thống kê” (ĐVT: Triệu USD) 12000 11117 11200 10000 8685 8000 6000 4360 4000 2818 2000 0 2005 2006 2007 2008 2009 Biểu đồ 1.3 Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa Trung Quốc vào Việt Nam năm 2005 – 2009 “Nguồn: Tổng cục Hải quan” 10 1.2 Các nhóm hàng Các mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc trong những năm qua nhìn chung rất phong phú, đa đạng.
Từ các mặt hàng như: máy móc, linh kiện, phụ tùng ôtô, vải, xăng dầu, sắt thép, phân bón, thuốc trừ sâu, nhựa…Cho đến các mặt hàng tiêu dùng hàng ngày như: giầy dép, quần áo, hàng rau quả, văn phòng phẩm, đồ chơi trẻ em…Đây là những mặt hàng không thể thiếu trong cuộc sống hằng ngày của người dân, cũng như trong sản xuất. Dưới đây là tình hình nhập khẩu các mặt hàng từ thị trường Trung Quốc trong những năm 2005 trở lại đây.1 Nhóm hàng thực phẩm tiêu dùng Hàng rau quả Trong năm 2009, kim ngạch nhập khẩu hàng rau quả của Việt Nam từ thị trường Trung Quốc đạt 169 tiệu USD, chiếm 60% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng rau quả của cả nước.4 Kim ngạch nhập khẩu hàng rau quả từ Trung Quốc năm 2009 “Nguồn: Tổng cục Hải quan” Tình trạng rau có nguồn gốc từ Trung Quốc du nhập vào thị trường nước ta, chưa có một thông tin chính thức từ các cơ quan kiểm nghiệm nên chưa ai khẳng định được mức dư lượng thuốc bảo vệ thực vật có đáp ứng chỉ tiêu cho phép không. Chính vì điều này, mà người tiêu dùng vẫn đang phải tự bảo vệ mình trước mối lo rau quả đang ăn có an toàn không. 11 Trước thực trạng rau Trung Quốc nhập về không qua kiểm tra, Cục an toàn vệ sinh thực phẩm của Bộ Y tế khuyến cáo, lựa chọn rau quả tươi cần chú ý đến hình dáng bên ngoài như: Còn nguyên vẹn, lành lặn, không dập nát, trầy xước, thâm nhũn ở núm cuống.
Cảnh giác với loại quá mập, phổng phao; Về màu sắc: có màu sắc tự nhiên của rau quả, không úa, héo, chú ý các loại quả xanh và màu sắc bất thường. Hơn nữa trình độ kỹ thuật về nông nghiệp của nước ta vẫn còn lạc hậu. Cho nên trong thời gian tới, kim ngạch nhập khẩu mặt hàng rau quả từ Trung Quốc sẽ vẫn ở mức cao và tiếp tục chiếm lĩnh thị trường trong nước. Hàng thủy sản Năm 2009, nhập khẩu thủy sản của nước ta từ thị trường Trung Quốc đạt kim ngạch 12,1 triệu USD, chiếm 4,5% thị phần nhập khẩu hàng thủy sản của nước ta.5 Kim ngạch nhập khẩu hàng thủy sản từ Trung Quốc đầu năm 2009 “Nguồn: Tổng cục Hải quan” Thủy sản là một trong những ngành kinh tế quan trọng đối với Việt Nam, với bờ biển dài 3260 km cùng nhiều kênh rạch, đã trở thành một ngành đêm lại hiệu quả kinh tế cao cho nước ta.
Dự báo trong thời gian tới, nhập khẩu mặt hàng thủy sản từ Trung Quốc sẽ không tăng thêm nhiều. 12 Xuất khẩu thủy sản 10 tháng đầu năm 2013 đạt 5,5 tỷ USD Các mặt hàng xuất khẩu khác đều chững lại hoặc giảm. Trong 9 tháng đầu năm 2013, Việt Nam xuất khẩu thủy sản đi 156 thị trường đạt 4,8 tỷ USD, tăng 6,4% so với cùng kỳ năm ngoái. Xuất khẩu thủy sản trong tháng 10 năm 2013 tiếp tục tăng trưởng khả quan, ước tính sẽ đạt khoảng 680 triệu USD, tăng 14% so với cùng kỳ năm 2012, đưa tổng xuất khẩu 10 tháng năm 2013 lên đến 5,5 tỷ USD, tăng 7,3%.6 Ƣớc tính xuất khẩu thủy sản Việt Nam tháng 10 và 10 tháng đầu năm 2013 (ĐVT: Triệu USD) So với Từ 1/1 đến So với cùng Tháng STT Sản phẩm tháng 31/10/2013 kỳ 2012 10/2013 10/2012 (GT) (%) 1 Tôm các loại 352,456 51,8 2.426,746 -1,9 3 Cá ngừ 32,986 -27,8 447,749 -7,1 Cá các loại 4 78,826 -10,8 690,262 -5,9 khác 5 Nhuyễn thể 53,002 -3,6 418,440 -14,0 6 Cua, ghẹ 13,656 -2,1 84,605 -11,5 TỔNG CỘNG 683,716 14,3 5.483,863 7,3 “Nguồn: Thông tin thương mại Việt Nam, số 174/GP-BC năm 2006” 13 Bánh kẹo Năm 2009, nhập khẩu bánh kẹo từ Trung Quốc vào nước ta là 4,4 triệu USD, chiếm 3,8% thị phần nhập khẩu bánh kẹo của cả nước.7 Kim ngạch nhập khẩu bánh kẹo từ Trung Quốc đầu năm 2009 “Nguồn: Tổng cục Hải quan” Năm 2009, nhập khẩu bánh kẹo từ Trung Quốc vào nước ta là 4,4 triệu USD, chiếm 3,8% thị phần nhập khẩu bánh kẹo của cả nước.
Theo số liệu thống kê gần đây, tháng 10 năm 2011 kim ngạch xuất khẩu bánh kẹo của nước ta đạt 34,5 triệu USD, tăng 19,3% so với tháng trước, và tăng 25,2% so với cùng tháng năm 2010, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu bánh kẹo của Việt Nam đạt 300 triệu USD.