Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sau hơn ba thập kỷ đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, Việt Nam đã tham gia nhiều tổ chức liên kết kinh tế đa phương (ASEAN, APEC, WTO) và ký kết các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA), Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Tuy nhiên, quá trình tự do hóa thương mại và mở cửa thị trường cũng làm gia tăng nhanh chóng tình trạng buôn lậu và gian lận thương mại (GLTM) trong hoạt động xuất nhập khẩu (XNK). Thủ đoạn của các đối tượng vi phạm ngày càng tinh vi, lợi dụng các "lỗ hổng" chính sách và cơ chế thông thoáng của thủ tục hải quan điện tử. Thêm vào đó, tác động từ cuộc chiến tranh thương mại Mỹ – Trung và đại dịch Covid-19 đã biến Việt Nam thành địa bàn có nguy cơ cao về chuyển tải bất hợp pháp, gian lận xuất xứ ("núp bóng" hàng hóa xuất xứ Việt Nam) nhằm lẩn tránh các biện pháp phòng vệ thương mại.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể theo các nội dung sau:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận, các khái niệm, đặc điểm, hình thức nhận diện, nguyên nhân và tác hại của hành vi gian lận thương mại trong hoạt động xuất nhập khẩu.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng gian lận thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2018 đến đầu năm 2022 ở cả cấp độ vĩ mô (toàn cảnh qua các năm và lực lượng chức năng) và cấp độ vi mô (các phương thức, thủ đoạn và vụ việc điển hình).
  3. Đề xuất hệ thống các quan điểm, định hướng, mục tiêu và giải pháp cụ thể nhằm nâng cao năng lực đấu tranh phòng ngừa, kiểm soát và giảm thiểu tình trạng gian lận thương mại xuất nhập khẩu tại Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tình hình gian lận thương mại trong hoạt động xuất nhập khẩu tại Việt Nam và công tác đấu tranh phòng, chống hành vi này của các cơ quan quản lý nhà nước.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, tập trung vào các tuyến đường bộ biên giới, tuyến đường biển, đường hàng không và các địa bàn hải quan trọng điểm.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2018 đến đầu năm 2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận và khung pháp lý dựa trên các chuẩn mực quốc tế và văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam:

  • Khái niệm và chuẩn mực quốc tế: Định nghĩa về GLTM của Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO) theo Công ước Nairobi (1977) và định nghĩa sửa đổi tại Hội nghị quốc tế lần thứ 5 ở Brussels (1995); hệ thống 16 hình thức GLTM chủ yếu do WCO xác lập.
  • Văn bản pháp luật và quy định trong nước: Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với Điều 188 (Tội buôn lậu), Điều 190 và Điều 191 (Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm); Luật Hải quan năm 2014 quy định về cơ chế quản lý rủi ro và phân luồng tờ khai (xanh, vàng, đỏ); Thông tư số 07/2017/TT-BTC ngày 24/01/2017 quy định 73 hành vi gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan; Thông tư số 12/2018/TT-BTC quy định danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu; Thông tư liên tịch số 36/2012/TTLT-BCT-BCA-BTP-BYT-TANDTC-VKSNDTC; Thông tư số 03/2022/TT-BCT về việc tạm dừng kinh doanh tạm nhập, tái xuất mặt hàng y tế phòng dịch.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả vận dụng gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Phân tích các tài liệu học thuật, báo cáo chuyên ngành và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để làm rõ các khái niệm, phân loại hành vi và khung pháp lý quản lý.
  • Phương pháp so sánh và thống kê mô tả: Thu thập, xử lý và so sánh các chuỗi số liệu thứ cấp qua các năm nhằm đánh giá diễn biến quy mô, cơ cấu kim ngạch XNK, số vụ vi phạm bị phát hiện, số vụ khởi tố và số tiền thu nộp ngân sách nhà nước.

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu hoàn toàn là dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ các cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức uy tín, bao gồm: Tổng cục Hải quan, Ban Chỉ đạo Quốc gia 389, Tổng cục Thống kê, Bộ Công Thương, Cục Quản lý thị trường, cơ sở dữ liệu UN COMTRADE và báo cáo của UNCTAD.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về gian lận thương mại

Chương này tập trung làm rõ các vấn đề lý luận căn bản:

  • Khái niệm và đặc điểm: Tác giả phân tích các định nghĩa GLTM từ góc độ ngôn ngữ học, dân gian ("buôn gian, bán lận"), quan điểm học thuật (Lê Thanh Bình, 1996), chuẩn mực quốc tế của WCO (1977, 1995) và đưa ra khái niệm tổng hợp tại Việt Nam. Đồng thời, tác giả làm rõ ranh giới giữa "buôn lậu" (hành vi vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, trốn tránh kiểm soát) và "gian lận thương mại" (lợi dụng kẽ hở cơ chế, chính sách, núp bóng giấy tờ hợp pháp để gian dối nhằm trốn thuế hoặc chiếm đoạt lợi ích).
  • Phân loại hình thức vi phạm: Trình bày chi tiết 16 hình thức GLTM theo phân loại của WCO và cụ thể hóa thành các hành vi phổ biến tại Việt Nam theo Thông tư 07/2017/TT-BTC (khai sai mã HS, khai sai trị giá hải quan, lợi dụng chính sách luồng xanh điện tử, lợi dụng chế độ tạm nhập tái xuất, giả mạo xuất xứ C/O, buôn bán hàng giả vi phạm sở hữu trí tuệ, khai khống để hoàn thuế giá trị gia tăng...).
  • Nguyên nhân và tác hại: Chỉ ra nguyên nhân chủ quan (động cơ tối đa hóa lợi nhuận phi pháp, năng lực cạnh tranh kém của hàng nội địa, sự thiếu đồng bộ giữa các lực lượng kiểm tra, sự suy thoái đạo đức của một bộ phận công chức) và nguyên nhân khách quan (địa hình hiểm trở biên giới dài, trang thiết bị kiểm soát còn thiếu thốn, văn bản pháp luật chồng chéo, thủ tục hành chính phức tạp). Tác hại được đánh giá toàn diện ở cả cấp độ vĩ mô (thất thu ngân sách, méo mó nền kinh tế, đe dọa an ninh quốc gia, xói mòn đạo đức xã hội) và cấp độ vi mô (doanh nghiệp vi phạm bị xử phạt nặng, bị đưa vào "danh sách đen" luồng đỏ, ngành hàng đối mặt nguy cơ bị áp thuế phòng vệ thương mại).

Chương 2: Thực trạng gian lận thương mại tại Việt Nam

Chương 2 phân tích bối cảnh tự nhiên, kinh tế - xã hội và đánh giá toàn diện thực trạng vi phạm trong giai đoạn 2018 - đầu năm 2022:

  • Bối cảnh kinh tế và hoạt động XNK: Tổng kim ngạch XNK duy trì đà tăng trưởng cao: đạt 264,267 tỷ USD xuất khẩu năm 2019 (tăng 8,4% so với năm 2018); năm 2021 tổng kim ngạch XNK đạt 668,55 tỷ USD (tăng 22,6%), trong đó xuất khẩu đạt 336,31 tỷ USD; quý I/2022 tổng kim ngạch đạt 178,75 tỷ USD, xuất siêu 2,05 tỷ USD. Khối doanh nghiệp FDI chiếm tỷ trọng áp đảo (năm 2019 đạt 185,278 tỷ USD xuất khẩu, chiếm 70% tổng kim ngạch cả nước; năm 2020 đạt 204,459 tỷ USD).
  • Thực trạng ở cấp độ vĩ mô:
    • Năm 2018: Ban Chỉ đạo 389 phát hiện và xử lý 202.980 vụ vi phạm, nộp NSNN 20.123 tỷ 508 triệu đồng; khởi tố 1.979 vụ (tăng 21%) với 2.339 đối tượng.
    • Năm 2019: Phát hiện và xử lý 215.000 vụ vi phạm. Lực lượng Quản lý thị trường xử lý 90.000 vụ, thu nộp và xử lý hàng hóa đạt 670 tỷ đồng.
    • Năm 2020: Phát hiện 75.264 vụ trong 6 tháng đầu năm; cả năm giảm 16,3% số vụ vi phạm so với năm 2019 nhưng tính chất nghiêm trọng hơn với 2.543 vụ bị khởi tố hình sự (tăng 15,3%), nộp NSNN 24,8 nghìn tỷ đồng.
    • Năm 2021: 9 tháng đầu năm xử lý 100.290 vụ vi phạm, nộp NSNN hơn 7.500 tỷ đồng; lũy kế 11 tháng của Tổng cục Hải quan đạt 13.092 vụ. Dịp Tết 2022, Hải quan bắt giữ 2.733 vụ vi phạm (tăng 29,04%), khởi tố 27 vụ (tăng 35%).
  • Thực trạng ở cấp độ vi mô qua các vụ việc cụ thể:
    • Gian lận mã số, tên hàng hóa: Theo Tổng cục Hải quan, trong khoảng 15.000 mẫu phân loại hàng năm có tới 53% mẫu khai sai. Điển hình là vụ Công ty TNHH XNK và Phát triển Đức Minh (tháng 9/2019 tại Cảng Cát Lái) khai xuất khẩu đất nung chịu thuế 0% nhưng thực chất là gần 115 tấn phế liệu vỏ lon bia ép khuôn chịu thuế 25%, trị giá trên 3,5 tỷ đồng, trốn thuế hơn 770 triệu đồng. Vụ Công ty TNHH chế biến gỗ Chí Lâm (12/2019) khai viên nén mùn cưa (thuế 0%) nhưng thực chất là 111 container gỗ cao su xẻ dọc (thuế 25%), trị giá gần 23 tỷ đồng, trốn thuế 5,7 tỷ đồng.
    • Gian lận hàng y tế phòng chống dịch: Vụ Công ty CP TNHH sản xuất và XNK thiết bị y tế Sài Gòn (12/2020) khai nhập khẩu găng tay nhà bếp mới 100% nhưng thực tế là gần 1.100 thùng găng tay y tế đã qua sử dụng, bẩn mốc từ Trung Quốc; vụ thu giữ 5.020 cây thuốc lá điện tử lậu tại Lào Cai (4/1/2022) và gần 8.500 kit test nhanh Covid nhập lậu tại Móng Cái (tháng 3/2022).
  • Tồn tại và bất cập pháp lý: Phân tích điểm nghẽn của Điều 190, Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 khi quy định mức định lượng trị giá hàng phạm pháp tối thiểu 100 triệu đồng mới bị xử lý hình sự (tăng 4,4 lần so với mức 1.500 bao thuốc lá theo Thông tư liên tịch số 36/2012), làm suy giảm đáng kể tính răn đe.

Chương 3: Giải pháp tăng cường phòng chống và giảm thiểu tình trạng gian lận XNK tại Việt Nam

Chương 3 đưa ra hệ thống định hướng, mục tiêu và 3 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Giải pháp nâng cao, cải thiện suy nghĩ và hành động của quần chúng nhân dân: Đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật hải quan, nâng cao ý thức trách nhiệm của doanh nghiệp và cư dân vùng biên giới; tôn vinh các tấm gương tốt, vận động người dân không tiếp tay cho buôn lậu và chủ động tố giác tội phạm.
  2. Giải pháp nâng cao công tác kiểm soát và phát hiện các hành vi gian lận: Tăng cường đầu tư trang thiết bị kỹ thuật, máy soi hiện đại tại các cửa khẩu; hoàn thiện quy trình kiểm tra sau thông quan; nâng cao năng lực phân tích rủi ro trong phân luồng tờ khai hải quan điện tử; tăng cường phối hợp liên ngành giữa Hải quan, Quản lý thị trường, Biên phòng và Cảnh sát biển.
  3. Giải pháp ngăn chặn dứt điểm hành vi tham ô, tham nhũng, bao che, tiếp tay của cán bộ công chức: Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ; thực hiện luân chuyển vị trí công tác định kỳ; xử lý nghiêm minh các cán bộ suy thoái, tiêu cực; hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách nhằm loại bỏ kẽ hở pháp lý và cắt giảm các thủ tục hành chính rườm rà.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính và số liệu thực chứng

Khóa luận đã tổng hợp toàn diện các số liệu thực tế về công tác đấu tranh chống buôn lậu và gian lận thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu:

Tiêu chí thống kê Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020 9 tháng đầu năm 2021
Tổng số vụ vi phạm phát hiện/xử lý 202.980 vụ ~215.000 vụ 185.300 vụ 100.290 vụ
Số vụ khởi tố hình sự 1.979 vụ — 2.543 vụ —
Số đối tượng bị khởi tố 2.339 đối tượng — Tăng ~50% —
Số tiền nộp NSNN / xử lý 20.123,5 tỷ đồng 670 tỷ đồng (riêng QLTT) 24.800 tỷ đồng > 7.500 tỷ đồng

Các phân tích số liệu vi mô đã chỉ ra thực tế rằng tỷ lệ khai sai tên hàng và mã số HS lên tới 53% trên tổng số mẫu phân loại kiểm tra hải quan; nhiều vụ trốn thuế xuất nhập khẩu có giá trị từ hàng trăm triệu đến gần 6 tỷ đồng bị triệt phá thông qua công tác kiểm tra sau thông quan và chuyển đổi luồng kiểm tra.

Đóng góp của đề tài

  • Khóa luận đã hệ thống hóa và cập nhật kịp thời bức tranh GLTM trong bối cảnh đặc thù của đại dịch Covid-19 và biến động kinh tế toàn cầu giai đoạn 2020 - đầu năm 2022, thời điểm xuất hiện các phương thức vi phạm mới (lợi dụng "xe luồng xanh", nhập lậu thiết bị y tế phòng dịch, thương mại điện tử ẩn danh).
  • Khắc phục tính cục bộ của các công trình nghiên cứu trước đây vốn chỉ tập trung vào một địa bàn tỉnh/thành phố riêng lẻ (như Tây Ninh, Hải Phòng, Nghệ An, Đồng Tháp, Tây Nguyên), khóa luận cung cấp cái nhìn bao quát trên phạm vi toàn quốc và đa dạng các tuyến địa bàn (đường bộ biên giới, cảng biển, hàng không).
  • Phát hiện và chỉ rõ các bất cập trong văn bản pháp luật hiện hành (như sự thay đổi giữa Thông tư liên tịch 36/2012 và Bộ luật Hình sự 2015 về mức xử lý hình sự đối với thuốc lá lậu), làm cơ sở cho các kiến nghị hoàn thiện thể chế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu chủ yếu dựa trên phương pháp định tính và thống kê mô tả số liệu thứ cấp được công bố; chưa xây dựng được mô hình kinh tế lượng định lượng đa biến để đo lường mức độ tác động cụ thể của từng nhân tố kinh tế vĩ mô (như thuế suất, tỷ giá, lạm phát) đến quy mô gian lận hóa đơn thương mại. Dữ liệu thực tế của năm 2022 mới chỉ phản ánh được giai đoạn quý I.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu bằng phương pháp định lượng hồi quy đối với dữ liệu gian lận hóa đơn xuất nhập khẩu; đi sâu khảo sát các hành vi gian lận thương mại điện tử xuyên biên giới và gian lận quyền sở hữu trí tuệ trong giai đoạn phục hồi kinh tế hậu Covid-19.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh doanh quốc tế, Kinh tế quốc tế, Luật Kinh tế, Quản lý hải quan và Thương mại quốc tế đang thực hiện các đề tài nghiên cứu về rào cản thương mại, gian lận xuất xứ và quản lý nhà nước về ngoại thương.
  • Nội dung giá trị nhất: Phần hệ thống hóa 16 hình thức GLTM theo chuẩn WCO đối chiếu với Thông tư 07/2017/TT-BTC, cùng các tình huống thực tiễn phân tích chi tiết về thủ đoạn khai sai mã HS và cơ chế kiểm soát rủi ro phân luồng tờ khai hải quan điện tử tại Chương 2.

Câu hỏi thường gặp

1. Gian lận thương mại khác buôn lậu như thế nào theo phân tích trong khóa luận?

Theo khóa luận, buôn lậu là hành vi lén lút, sử dụng phương tiện mạo hiểm (đường mòn, lối mở, đường biển) để vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới nhằm trốn tránh hoàn toàn sự kiểm tra của hải quan (Điều 188 Bộ luật Hình sự 2015). Trong khi đó, gian lận thương mại có phạm vi rộng hơn, thường núp dưới vỏ bọc hợp pháp, lợi dụng các kẽ hở chính sách và quy định quản lý (như khai sai tên hàng, mã HS, trị giá, gian lận xuất xứ, lợi dụng phân luồng xanh) để trốn nghĩa vụ thuế hoặc trục lợi.

2. Điểm bất cập của Bộ luật Hình sự 2015 đối với việc xử lý tội buôn bán thuốc lá lậu được tác giả chỉ ra là gì?

Trước đây, Thông tư liên tịch số 36/2012 quy định thuốc lá lậu từ 1.500 đến dưới 4.500 bao được coi là số lượng lớn và bị xử lý hình sự. Tuy nhiên, Điều 190 và 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bỏ tiêu chí số lượng và quy định giá trị hàng cấm phạm pháp tối thiểu phải từ 100 triệu đồng mới bị xử lý hình sự. Mức định lượng bằng tiền này cao gấp khoảng 4,4 lần so với quy định cũ (tính theo giá buôn trung bình), dẫn đến giảm tính răn đe đối với các hành vi buôn bán thuốc lá nhập lậu.

3. Thủ đoạn gian lận của Công ty TNHH XNK và Phát triển Đức Minh tại cảng Cát Lái đã diễn ra như thế nào?

Vào tháng 9/2019, Công ty Đức Minh mở tờ khai hải quan luồng xanh xuất khẩu lô hàng được khai báo là sản phẩm đất nung mới 100% sang Hàn Quốc với thuế suất 0%, trị giá hơn 238 triệu đồng. Khi kiểm tra thực tế, cơ quan Hải quan phát hiện bên trong 5 container là gần 115 tấn phế liệu vỏ lon bia ép khuôn, thuộc diện chịu thuế xuất khẩu 25%, trị giá hàng hóa hơn 3,5 tỷ đồng, trốn thuế trên 770 triệu đồng. Vụ việc sau đó đã bị khởi tố hình sự.

4. Cơ quan quản lý đã áp dụng biện pháp cấp bách nào để ngăn chặn tình trạng gian lận tạm nhập tái xuất vật tư y tế trong đại dịch Covid-19?

Để ngăn chặn tình trạng nhập lậu vật tư y tế đã qua sử dụng và gian lận tạm nhập tái xuất, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 03/2022/TT-BCT có hiệu lực từ ngày 15/3/2022 đến hết ngày 31/12/2022, quy định tạm dừng kinh doanh tạm nhập, tái xuất đối với một số mặt hàng trang thiết bị y tế phòng chống dịch như khẩu trang, găng tay và trang phục phòng hộ.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Minh Ánh đã phản ánh toàn diện, có hệ thống thực trạng gian lận thương mại xuất nhập khẩu tại Việt Nam trong giai đoạn 2018 đến đầu năm 2022 thông qua các số liệu thống kê và các vụ án kinh tế điển hình. Tác giả đã làm rõ các nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng vi phạm, đồng thời chỉ ra những lỗ hổng pháp lý và thủ đoạn trục lợi trong cơ chế quản lý hải quan điện tử và bối cảnh dịch bệnh. Trên cơ sở đó, công trình đề xuất các nhóm giải pháp đồng bộ về nâng cao ý thức xã hội, hiện đại hóa kỹ thuật kiểm soát và chấn chỉnh kỷ cương công vụ, mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác nghiên cứu và quản lý ngoại thương.