Chương 1: Tổng quan về gian lận thương mại Chương 2: Thực trạng gian lận thương mại tại Việt Nam Chương 3: Giải pháp tăng cường phòng chống và giảm thiểu tình trạng gian lận thương mại tại Việt Nam. 8 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ GIAN LẬN THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm và đặc điểm của gian lận thƣơng mại 1. Khái niệm về gian lận thương mại 1.
Khái niệm về gian lận thương mại Thương mại xuất hiện rất sớm cùng nền sản xuất hàng hóa và trở thành quy luật tất yếu khách quan trong quá trình phân công lao động quốc tế và tối ưu hóa nguồn tài nguyên thế giới phân bố không đồng đều giữa các quốc gia. Thương mại ở Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật chung của thế giới, thương mại được xem như là “cầu nối” giữa thương nghiệp và công nghiệp, giữa các vùng kinh tế, giữa trong nước và ngoài nước. Không những thế thương mại còn thúc đẩy sản xuất, phục vụ đời sống, đảm bảo quá trình tái sản xuất nền sản xuất xã hội. Chúng ta không thể phủ nhận hoạt động thương mại đặc biệt là thương mại quốc tế đã và đang phát triển một cách mạnh mẽ trong những năm gần đây.
Hoạt động XNK là một trong những hoạt động nổi bật của thương mại quốc tế hiện nay. Một trong những lợi ích to lớn mà hoạt động thương mại quốc tế đem lại là góp phần làm tăng trưởng kinh tế, cải thiện cán cân thương mại cũng như thanh toán của quốc gia. Tuy nhiên, sự bùng nổ của thương mại quốc tế cũng mang lại nhiều mặt tiêu cực, đặc biệt sự hội nhập quốc tế sẽ gây ra áp lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp. Trước sự cạnh tranh gay gắt đó, nhằm tối đa hóa lợi nhuận, tối thiểu hóa chi phí mà một số doanh nghiệp đã gian lận trong kinh doanh với những chiêu trò, mánh khóe ngày càng tinh vi và phức tạp.
GLTM theo Từ điển tiếng Việt là sự dối trá, lừa lọc trong hoạt động thương mại. Người có hành vi GLTM gọi là “gian thương” tức là “người có nhiều mưu mô, lừa lọc”, “kể buôn bán gian lận và trái phép”. Gian lận được coi là hành vi của con người cụ thể có lời nói hoặc cử chỉ, hành động không đúng với bản chất của sự vật hiện tượng nhằm mục đích đánh lừa người khác. Trong dân gian, GLTM gắn liền với thành ngữ “buôn gian, bán lận” và dùng để chỉ những mánh khóe lừa lọc khách hàng hoặc người khác để thu lời bất chính.
Hành vi “buôn gian, bán lận” trong dân gian được hiểu bao gồm một số thủ đoạn đơn giản như: hàng xấu nói tốt, ít nói nhiều, rẻ nói đắt, cân đo điêu, buôn bán hàn cấm, lén lút, giấu giếm, lậu 9 thuế…Hành vi gian lạn thương mại trước hết phải là hành vi gian lận được thể hiện trong lĩnh vực thương mại. Chủ thể hành vi GLTM là các chủ hàng, có thể là người mua hoặc người bán cũng có khi là cả người mua và người bán. Mục đích của hành vi GLTM nhằm thu lợi bất chính từ thực hiện trọt lọt hành vi lừa đảo, dối trá. GLTM là hành vi tận dụng các kẽ hở trong cơ chế, chính sách, các văn bản pháp lý mà các đối tượng với nhiều chiêu trò, mánh khóe, thủ đoạn tinh vi và ngày càng phức tạp đã qua mặt các cơ quan chức năng trong việc kiểm tra, giám sát của các cán bộ hải quan và biên phòng.
GLTM ngày càng quen thuộc và phổ biến là vấn nạn chung của toàn cầu. Tổ chức Hải quân thế giới (WCO) đã nhiều lần thảo luận nhằm đưa ra khái niệm chính xác nhất về GLTM trong lĩnh vực hải quan. Ngày 9/6/1977, tại Nairobi (CH Kenya), các nước thành viên đã họp và đưa ra “Công ước quốc tế về hỗ trợ hành chính lẫn nhau trong ngăn chặn, trấn áp và điều tra các hành vi vi phạm Hải quan” (gọi tắt là Công ước Nairobi), trong đó có định nghĩa: “GLTM trong lĩnh vực Hải quan là hành vi vi phạm pháp luật Hải quan, lừa dối Hải quan để lẩn tránh một phần hoặc toàn bộ việc nộp thuế XNK, vi phạm các biện pháp cấm hoặc hạn chế do luật pháp Hải quan quy định, để thu được một khoản lợi nào đó qua việc vi phạm pháp luật này”. Khái niệm trên đã đưa ra một góc nhìn tổng quan nhất về những biểu hiện của GLTM.
Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa và xu hướng giao thương quốc tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ như hiện nay thì hành vi GLTM lại càng trở nên phức tạp và tinh vi hơn. Vì thế, ngày 9/10/1995, trong hội nghị quốc tế lần thứ5 về phòng chống và ngăn chặn GLTM trong lĩnh vực Hải quan tại Brussels, Bỉ, WCO đã đưa ra một định nghĩa mới như sau: “GLTM trong lĩnh vực Hải quan là hành vi vi phạm các điều khoản pháp quy hoặc pháp luật Hải quan nhằm trốn tránh hoặc cố ý trốn tránh nộp thuế Hải quan, phí và các khoản thu khác đối với việc di chuyển hàng hóa thương mại hoặc nhận và có ý định nhận việc hoàn trả trợ cấp hoặc phụ cấp cho hàng hóa không thuộc đối tượng đó hoặc đạt được hoặc cố ý đạt được lợi thế thương mại bất hợp pháp gây hại cho các nguyên tắc và tập tục cạnh tranh thương mại chân chính”. Ở Việt Nam hiện nay khái niệm chính thức, đầy đủ nhất về GLTM chưa từng 10 xuất hiện ở bất kỳ một văn bản pháp lý nào. Tuy nhiên vấn đề này không còn mới mẻ vì ông cha ta đã đưa ra một thuật ngữ với GLTM đó là “buôn gian, bán lận”.
Đến nay, trong ngoại thương, GLTM là một thuật ngữ rất phổ biến để chỉ các hành vi gian dối, lừa đảo, không chấp hành mọi quy định của luật Hải quan cũng như qua mặt các cơ quan chức năng nhằm trốn thuế, rửa tiền để thu lợi bất chính. Trong cuốn sách “Chống buôn lậu và GLTM” NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội (1996), PTS. Lê Thanh Bình có đề cập tời khái niệm hành vi GLTM như sau: “GLTM là hành vi dối trá, mánh khóe, lừa lọc trong lĩnh vực thương mại thông qua hoạt động mua, bán, kinh doanh, XNK hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích thu lợi bất chính”. Trên cơ sở định nghĩa của WCO kết hợp với thực tiễn ở Việt Nam, khái niệm về GLTM có thể được hiểu là: “GLTM là hành vi gian lận các luồng sản phẩm XNK bằng cách lợi dụng các sơ hở của pháp luật, chính sách và quản lý của các cơ quan Nhà nước để lẩn tránh việc kiêm tram giám sát của Hải quan nhằm trốn tránh nghĩa vụ đối với Nhà nước và thu lợi bất chính cho riêng mình”.
Đặc điểm của gian lận thương mại Việc phân biệt rõ ràng hai khái niệm “buôn lậu” và “GLTM” là một vấn đề khá khó khăn bởi đây là hai thuật ngữ thường đi đôi với nhau cũng như được sử dụng song hành không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước khác trên thế giới. Theo pháp luật Việt Nam, cụ thể theo Điều 188 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017), có thể thấy, buôn lậu là hành vi buôn bán hàng hóa trái phép qua biên giới các đối tượng như hàng hoá, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý…Bên cạnh đó buôn lậu còn được hiểu là hành vi buôn bán, vận chuyển hàng hóa, vật phẩm, hàng cấm qua biên giới không khai báo và trốn tránh sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan hải quan hoặc các cơ quan quản lý biên giới nơi không có tổ chức hải quan. Biểu hiện của hành vi buôn lậu chính là việc trao đổi hàng hóa mà không có giấy cấp phép XNK hoặc thực hiện không đúng với nội dung giấy phép đó cũng như các quy định, chính sách về Hải quan khác. Khác với buôn lậu, pháp luật Việt Nam cho rằng GLTM hiện nay không phải là một tội danh trong luật hình sự nhưng các đặc điểm cơ bản của nó lại trùng với tội 11 buôn lậu.
Buôn lậu có phần nằm trong GLTM nhưng không bao gốm tất cả, đặc biệt là GLTM ngoài buôn lậu còn bao gồm các hình thức khác như buôn bán hàng giả, gian lận xuất xứ, khai giả về số lượng, chất lượng… Nhìn chung, qua hai khái niệm về buôn lậu và GLTM ta có thể nhận thấy một số điểm khác nhau cơ bản như sau: Thứ nhất, về bản chất thì buôn lậu là hành vi mạo hiểm, có sự trợ lực của cửu vạn, không công khai, sử dụng các phương tiện đường biển, lối mòn để đưa hàng hóa qua biên giới nhằm trốn tránh sự kiểm tra của cơ quan Hải quan. Còn bản chất của GLTM là sử dụng mưu trí, lợi dụng các kẽ hở, không rõ ràng và đầy đủ pháp luật, chính sách, quy định của cơ quan chức năng để thực hiện hành vi gian dối nhằm thu lợi bất chính. Như vậy, buôn lậu được xem là hình thức GLTM đặc biệt nguy hiểm. Nguyên nhân là do GLTM không chỉ bao gồm buôn lậu mà còn rất nhiều hành vi khác nữa như “khai báo sai” hay “lợi dụng các chế độ ưu đãi “tạm nhập tái xuất”… để thực hiện hành vi bất chính.
Thứ hai, xét về dấu hiệu nhận biết thì hoạt động GLTM thường núp dưới vỏ bọc hợp pháp nên khó phát hiện hơn so với hoạt động buôn lậu. Thứ ba, mức độ xử phạt của hành vi GLTM thường nhẹ hơn so với khung hình phạt của hoạt động buôn lậu. Các hình thức và dấu hiệu nhận biết hành vi gian lận thƣơng mại Ngày nay, các hành vi gian lận XNK trong thương mại quốc tế ngày càng trở nên phổ biến trên toàn thế giới với các thủ đoạn gian xảo, tinh vi và phức tạp hơn, trở thành mối đe dọa thực sự đối với sự phát triển của kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh chính trị của các quốc gia nói riêng và của toàn thế giới nói chung. Những hậu quả xấu của nó có tác động rõ rệt và vô cùng nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội, tổn hại đến lợi ích của người dân, đi ngược lại với lợi ích của Nhà nước, làm tổn hại đến quyền lợi của nhân dân, phá hoại môi trường cạnh tranh lành mạnh của kinh tế thế giới, đồng thời gây tốn kém không nhỏ cho ngân sách các quốc gia trong việc thực hiện các biện pháp phòng chống gian lận XNK.