mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học cho việc xuất khẩu của Việt Nam sang thị trƣờng EU. Chƣơng 2: Thực trạng xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam sang thị trƣờng EU giai đoạn từ năm 2000 đến nay. Chƣơng 3: Triển vọng và giải pháp xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam sang thị trƣờng EU. 3 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CHO VIỆC XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƢỜNG EU 1.
KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÕ CỦA XUẤT KHẨU HÀNG HÓA 1. Khái niệm về xuất khẩu hàng hóa Trong điều kiện hiện nay, xét trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường là yêu cầu khách quan của mọi quốc gia. Lịch sử thế giới đã chứng minh rằng thương mại được coi là động lực của tăng trưởng, là chía khña để mở ra con đường đi đến sự giàu cñ và thịnh vượng của mỗi quốc gia. Lý do xuất hiện hoạt động thương mại quốc tế nñi chung và hoạt động xuất khẩu hàng hña nñi riêng là: một quốc gia cũng như cá nhân khóng thể sống có lập mà cñ thể thỏa mãn đầy đủ các nhu cầu của mính.
Trong khi đñ, nhu cầu của con người khóng ngừng tăng lên từ thấp cho đến cao, rất đa dạng và phong phú. Nhưng cùng một lúc, một người hay một quốc gia khóng thể làm ra mọi thứ mà họ cần bởi ví nguồn lực cñ hạn. Do đñ, chỉ cñ sự mua báo trao đổi hàng hña nñi chung và sự trao đổi mua bán hàng hña quốc tế nñi riêng mới đáp ứng được tốt nhất nhu cầu xã hội, khóng những thế, nñ còn đem lại hiệu quả kinh tế cao bằng những lợi thế riêng của mính. Như vậy, xuất khẩu là việc bán hàng hóa, dịch vụ cho một quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương thức thanh toán.
Xuất khẩu là một bộ phận cơ bản của hoạt động ngoại thương, trong đñ hàng hoá và dịch vụ được bán, cung cấp cho nước ngoài nhằm thu ngoại tệ. Điều này cũng đã được thể hiện qua học thuyết về lợi thế so sánh của nhà kinh tế học nổi tiếng David Ricardo (1772-1823). Theo Ricardo lợi thế so sánh là lợi thế tương đối mà một nước được hưởng so với nước khác trong sản xuất các loại hàng hña. Điều đñ xảy ra khi các nước cñ chi phì cơ hội khác nhau trong sản xuất một loại hàng hña nào đñ.
Việc sản xuất tất cả các loại 4 z hàng hña trên thế giới cñ thể tăng lên nếu các nước cñ thể chuyển nguồn lực sang sản xuất những loại hàng hña mà nước đñ cñ lợi thế so sánh. Như vậy, quy luật này nhấn mạnh sự khác nhau về chi phì sản xuất, coi đñ là tiền đề cơ bản của thương mại quốc tế và thương mại sẽ cñ lợi thế cho cả hai bên nếu mỗi nước chuyên món hña vào các sản phẩm mà nước đñ cñ lợi thế so sánh. Với sự phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế như ngày nay, quan hệ quốc tế đặc biệt là quan hệ thương mại quốc tế cñ tác động rất lớn đến sự phát triển của mỗi quốc gia. Thương mại quốc tế trở thành nguồn lực kinh tế của mỗi nước, kìch thìch sự phát triển của lực lượng sản xuất, của khoa học cóng nghệ.
Trong đñ, thể hiện rõ nhất là thóng qua sản phẩm xuất khẩu của mỗi quốc gia. Vỡ vậy khi nghiờn cứu dưới gñc độ các hỡnh thức quản trị kinh doanh thỡ xuất khẩu là một hoạt động cơ bản của ngoại thương, là một vấn đề hết sức quan trọng của kinh doanh quốc tế, là sự phát triển tất yếu của sản xuất và lưu thóng nhằm tạo ra hiệu quả kinh tế cao nhất trong mỗi nền kinh tế. Vai trò của xuất khẩu hàng hóa đối với sự phát triển kinh tế Việt nam Nhín nhận về chặng đường phát triển nền kinh tế Việt nam trong suốt hơn 20 năm thực hiện cóng cuộc đổi mới, một trong những nội dung quan trọng được Đảng và Nhà nước quan tâm là thực hiện chình sách “mở cửa” tìch cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế trong đñ quan tâm đến đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu. Đại hội IX của Đảng đã xác định khuyến khìch mọi thành phần kinh tế tham gia sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hña và dịch vụ, phát triển mạnh những hàng hña dịch vụ cñ khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Chỉ thị số 22/2000/TTG ngày 27/10/2000 của Thủ tướng Chình phủ về chiến lược phát triển xuất khẩu hàng hña và dịch vụ thời kỳ 2001-2010 đã thể hiện rõ: “Chiến lược phát triển xuất nhập khẩu hàng hña và dịch vụ thời kỳ 2001-2010, nhất là xuất khẩu, phải là chiến lược tăng tốc toàn diện trên nhiều lĩnh vực, phải cñ những khâu đột phá với những bước đi vững chắc. Mục tiêu hành động của thời kỳ này là tiếp tục chủ trương dành sự ưu tiên cao nhất cho xuất khẩu, tạo nguồn hàng cñ chất lượng, cñ sự cạnh tranh 5 z cao trong xuất khẩu”. Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Cñ thể nhận thấy rằng, xuất khẩu hàng hña là một mặt của quan hệ quốc tế.
Đẩy mạnh xuất khẩu hàng hña đem lại nguồn thu lớn cho đất nước để tạo động lực đẩy mạnh cóng nghiệp hña, hiện đại hña đất nước, gñp phần thực hiện cóng cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong giai đoạn hiện nay, khi mà chúng ta đang thực hiện cóng cuộc đổi mới phát triển và chuyển dịch nền kinh tế thí hơn lúc nào hết hoạt động xuất khẩu hàng hña chình là động lực, là nguồn thu ngoại tệ giúp chúng ta nhập khẩu máy mñc, thiết bị, dụng cụ nguyên nhiên liệu. Trong xu thế toàn cầu hña phát triển mạnh mẽ hiện nay, hoạt động thương mại quốc tế của mỗi một quốc gia ngày càng đñng vai trò quan trọng trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, là nền tảng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phân cóng lao động xã hội. Trong thời gian qua, Đảng và nhà nước ta luón coi trọng và thúc đẩy các ngành kinh tế theo hướng xuất khẩu, khuyến khìch các thành phần kinh tế mở rộng xuất khẩu để giải quyết cóng ăn việc làm cho người dân cũng như tăng nguồn thu ngoại tệ cho ngân sách nhà nước.
Bước vào thế kỷ 21, thế và lực của Việt nam đã thay đổi căn bản. Với bên ngoài, chúng ta đã cñ quan hệ kinh tế thương mại với hầu hết các quốc gia, các tổ chức trên toàn thế giới. Hàng hña Việt nam đã cñ mặt tại các nước lớn, các trung tâm thương mại toàn cầu. Trong nước, chúng ta đã cñ những bước tiến đáng kể trong việc cải thiện và phát triển mạng lưới điều kiện về cơ sở hạ tầng thóng tin liên lạc… Tuy nhiên, GDP của Việt nam hiện nay còn thấp, cơ sở hạ tầng cñ tiến bộ song nhín chung vấn còn lạc hậu so với các nước trong khu vực.
Điều này về căn bản đã tác động lớn tới quy mó, cơ cấu và hiệu quả hoạt động xuất khẩu của Việt nam giai đoạn hiện nay. 6 z Xuất khẩu đñng gñp vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Dưới tác động của xuất khẩu, cơ cấu sản xuất và tiêu dùng của thế giới đã và đang cñ xu hướng thay đổi mạnh mẽ, xuất khẩu làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia, từ nóng nghiệp sang cóng nghiệp, dịch vụ cho phù hợp với hướng phát triển của kinh tế thế giới. Với đặc điểm quan trọng là dùng đồng tiền làm phương tiện thanh toán, xuất khẩu gñp phần làm tăng dự trữ quốc gia.
Đặc biệt đối với những nước nghèo, đồng tiền khóng cñ khả năng chuyển đổi thí ngoại tệ cñ được nhờ hoạt động xuất khẩu đñng vai trò quan trọng trong điều chỉnh quan hệ cung cầu ngoại tệ, tạo điều kiện cho nền sản xuất trong nước phát triển. Xuất khẩu hàng hóa góp phần cải tiến cơ chế quản lý, chính sách kinh tế của nhà nƣớc cho phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế Đứng trước xu thế toàn cầu hña nền kinh tế như hiện nay, quá trính cải cách cơ chế quản lý, các chình sách kinh tế, thương mại của mỗi quốc gia khóng chỉ là cóng việc bñ gọn của quốc gia đñ mà còn cñ sự đñng gñp của các tổ chức, các diễn đàn quốc tế. Với Việt Nam cũng vậy, để thúc đẩy xuất khẩu hàng hña ra bên ngoài, cũng như hạn chế làn sñng hàng hña nhập khẩu chúng ta cần và phải cñ những cơ chế bảo hộ và xúc tiến thương mại làm sao cho phù hợp với thóng lệ quốc tế. Để thúc đẩy xuất khẩu, chình phủ các nước đều cñ những chình sách khuyến khìch các doanh nghiệp xuất khẩu dưới nhiều hính thức.
Sự khuyến khìch, hỗ trợ này được thể hiện bằng các chình sách của nhà nước. Về bản chất, các quốc gia đều muốn đưa chình sách hỗ trợ một cách trực tiếp như việc giảm thuế, hỗ trợ vay vốn, thưởng xuất khẩu. Tuy nhiên trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, những quy định chung trong thương mại quốc tế lại khóng cho phép các chình phủ các nước được hỗ trợ tài chình cho doanh nghiệp 7 z xuất khẩu để tạo sự bính đẳng chung bằng luật chống bán phá giá. Xuất khẩu là cơ sở thúc đẩy và mở rộng các mối quan hệ kinh tế quốc tế của nước ta.
Trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, xu thế khu vực hña, quốc tế hña lực lượng sản xuất đã trở thành xu hướng tất yếu của thời đại và là đòi hỏi khách quan của các quốc gia. Quan hệ tác động qua lại giữa các quốc gia thóng qua hoạt động kinh tế quốc tế ngày càng trở lên phổ biến. Trong xu thế chung này, hoạt động xuất khẩu thu về ngoại tệ là cơ sở cải tiến và áp dụng thành quả khoa học kỹ thuật, cóng nghệ thóng tin. đang là nhu cầu thiết yếu của mỗi quốc gia.
Với Việt nam cũng vậy, xuất khẩu là cơ sở thúc đẩy và mở rộng các mối quan hệ kinh tế quốc tế. Đây chình là một mắt xìch trong đường lối đa phương hña quan hệ thương mại của chúng ta. Mở rộng quan hệ thương mại với các đối tác trên thế giới sẽ là cơ sở cho các doanh nghiệp Việt nam cñ cơ hội năm bắt và khai thác những mặt mạnh trong quản lý của các tập đoàn lớn trên thế giới.