CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁ CẢ THỊ TRƯỜNG VÀ ĐIỀU HÀNH GIÁ Ở VIỆT NAM. Lý luận về giá cả, giá cả thị trường và các nhân tố ảnh hưởng. Học thuyết “Lý luận về giá trị, giá cả” của C.Mác khẳng định, hàng hoá là sự thống nhất biện chứng của 2 mặt: giá trị sử dụng và giá trị. Giá trị sử dụng là công dụng của sản phẩm có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người.
Ví dụ, cơm để ăn, xe đạp để đi lại. vật phẩm nào cũng có một số công dụng nhất định. Công dụng của vật phẩm là do thuộc tính tự nhiên của vật chất quyết định. Giá trị sử dụng là phạm trù vĩnh viễn và là vật mang giá trị trao đổi.
Giá trị được xem xét như là quan hệ sản xuất xã hội của những người sản xuất hàng hoá, còn hàng hoá là nhân tố tế bào của xã hội tư sản. Ông đã phân tích tính chất 2 mặt của lao động sản xuất hàng hoá là lao động cụ thể và lao động trừu tượng, lao động tư nhân và lao động xã hội. Ông khẳng định chỉ có lao động trừu tượng tạo ra giá trị hàng hoá. Giá trị hàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá - chất của giá trị là lao động.
Sản phẩm nào lao động hao phí để sản xuất ra chúng càng nhiều thì giá trị càng cao. Giá trị là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi; còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị ra bên ngoài. Giá trị là 1 phạm trụ lịch sử gắn liền với sản xuất hàng hoá. Chất của giá trị là lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hoá, kết tinh trong hàng hoá.
Lượng giá trị là do lượng lao động hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó quyết định, lượng giá trị của hàng hoá do thời gian lao động quyết định. Từ việc phân tích các phạm trù giá trị nêu trên, C.Mác đã đưa ra định nghĩa về giá cả: “Giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá”. Giá cả ở đây là giá cả hàng hoá, là mức giá mà được xã hội thừa nhận. Giá trị hàng hoá là giá trị xã hội, 6 được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hoá, chứ không phải là giá trị cá biệt của từng người sản xuất.
Giá cả thị trường. Giá cả thị trường là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị thị trường và giá cả sản xuất. Trong điều kiện tự do cạnh tranh, sự hình thành của giá cả thị trường phụ thuộc vào 03 nhân tố: giá trị thị trường của hàng hóa, quan hệ cung – cầu về hàng hóa và sức mua của đồng tiền trong lưu thông. Giá trị thị trường có những đặc trưng cơ bản sau: - Một là, giá cả thị trường hình thành trên cơ sở giá trị thị trường.
Để sản xuất hàng hoá, người sản xuất phải bỏ ra chi phí cho các yếu tố “đầu vào” như nguyên, nhiên vật liệu, năng lượng, tiền lương, … chi phí sản xuất cho một đơn vị sản phẩm là bộ phận cơ bản tạo ra giá trị hàng hoá. Giá trị hàng hoá của một người sản xuất là giá trị cá biệt. Nhưng khi người sản xuất mang hàng hoá ra bán trên thị trường, được thị trường chấp nhận thì đó là giá trị thị trường. - Hai là, giá cả thị trường là giá được thị trường chấp nhận.
Trên thị trường, khi người mua chấp nhận mua hàng và trả cho người bán một lượng tiền nhất định để được quyền sử hữu, sử dụng sản phẩm; tức là thị trường đã thừa nhận trực tiếp, cũng có nghĩa là về cơ bản quá trình sản xuất xã hội của hàng hoá đã hoàn thành. Thị trường thừa nhận quan hệ cung-cầu, thừa nhận giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá. - Ba là, giá cả thị trường biểu hiện quan hệ trực tiếp giữa người mua và người bán hàng hoá. Giá cả hàng hoá được hình thành trên thị trường thông qua hoạt động trao đổi giữa người mua và người bán, người mua bao giờ cũng muốn mua rẻ, người bán bao giờ cũng muốn bán giá cao.
Mâu thuẫn này được giải quyết khi người mua và người bán thống nhất được mức giá hàng hoá, khi đó giá cả thị trường hình thành. - Bốn là, giá cả thị trường biểu hiện sự thống nhất giữa giá trị và giá trị sử dụng. Giá cả hình thành thống nhất theo một đơn vị giá trị sử dụng. Giá trị sử dụng 7 được thể hiện trên các mặt: Chất lượng chi phí sử dụng hàng hoá và tính thay thế lẫn nhau trong sử dụng.
Vì vậy, giá cả hình thành theo chất lượng hàng hoá, hàng có chất lượng cao thì giá cao và ngược lại, hàng có chất lượng thấp thì giá thấp. Đặc trưng của giá cả thị trường. Từ việc nghiên cứu bản chất kinh tế của phạm trù giá cả, có thể rút ra những đặc trưng cơ bản của giá cả thị trường như sau: - Một là, giá cả thị trường hình thành trên cơ sở giá trị thị trường: để sản xuất hàng hoá, người sản xuất phải bỏ ra chi phí cho các yếu tố “đầu vào” như nguyên, nhiên vật liệu, năng lượng, tiền lương, … chi phí sản xuất cho một đơn vị sản phẩm là bộ phận cơ bản tạo ra giá trị hàng hoá. Giá trị hàng hoá của một người sản xuất là giá trị cá biệt.
Nhưng khi người sản xuất mang hàng hoá ra bán trên thị trường, được thị trường chấp nhận thì đó là giá trị thị trường. - Hai là, giá cả thị trường là giá được thị trường chấp nhận: trên thị trường, khi người mua chấp nhận mua hàng và trả cho người bán một lượng tiền nhất định để được quyền sử hữu, sử dụng sản phẩm; tức là thị trường đã thừa nhận trực tiếp, cũng có nghĩa là về cơ bản quá trình sản xuất xã hội của hàng hoá đã hoàn thành. Thị trường thừa nhận quan hệ cung-cầu, thừa nhận giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá. - Ba là, giá cả thị trường biểu hiện quan hệ trực tiếp giữa người mua và người bán hàng hoá.
Giá cả hàng hoá được hình thành trên thị trường thông qua hoạt động trao đổi giữa người mua và người bán, người mua bao giờ cũng muốn mua rẻ, người bán bao giờ cũng muốn bán giá cao. Mâu thuẫn này được giải quyết khi người mua và người bán thống nhất được mức giá hàng hoá, khi đó giá cả thị trường hình thành. - Bốn là, giá cả thị trường biểu hiện sự thống nhất giữa giá trị và giá trị sử dựng. Giá cả hình thành thống nhất theo một đơn vị giá trị sử dụng.
Giá trị sử dụng được thể hiện trên các mặt: Chất lượng chi phí sử dụng hàng hoá và tính thay thế 8 lẫn nhau trong sử dụng. Vì vậy, giá cả hình thành theo chất lượng hàng hoá, hàng có chất lượng cao thì giá cao và ngược lại, hàng có chất lượng thấp thì giá thấp. Các nhân tố ảnh hưởng đến giá cả thị trường. - Giá trị thị trường.
Giá cả thị trường là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị thị trường hàng hoá - Tức là phụ thuộc rất lớn vào giá trị thị trường. Giá trị thị trường nói ở đây, là giá trị xã hội – giá trị được xã hội thừa nhận và được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết. Vậy, giá trị thị trường hình thành như thế nào? Như chúng ta đã biết, trên thị trường hầu hết các loại hàng hoá được sản xuất ra không chỉ một hoặc hai nhà sản xuất sản xuất ra mà có khi rất nhiều nhà sản xuất cùng sản xuất hàng hoá đó. Ví dụ, để sản xuất lúa, gạo, không chỉ có tỉnh Hậu Giang sản xuất mà nhiều tỉnh như: An Giang, Đồng Tháp, Sóc Trăng… sản xuất.
Mỗi địa phương, để sản xuất một tấn gạo đều phải hao phí một lượng lao động nhất định (tức là một giá trị cá biệt nhất định), và như vậy trên thị trường về gạo sẽ có nhiều người cung cấp gạo, mỗi loại ứng với 1 giá trị cá biệt nhất định. Nhưng khi đưa sản phẩm gạo ra thị trường thì xã hội chỉ chấp nhận một mức giá (nếu không tính đến các yếu tố khác như; phẩm chất, tỷ lệ tấm, …) đó là giá trị thị trường. Vậy, giá trị thị trường là kết quả của sự san bằng các giá trị cá biệt của hàng hoá trong cùng một ngành thông qua cạnh tranh. Cạnh tranh trong nội bộ ngành dẫn tới hình thành một giá trị xã hội trung bình.
Tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của sức sản xuất của mỗi ngành mà giá trị thị trường có thể ứng với một trong ba trường hợp sau đây: - Trường hợp thứ nhất: Giá trị thị trường của hàng hoá do giá trị của đại bộ phận hàng hoá được sản xuất ra trong điều kiện trung bình quyết định. Đây là trường hợp phổ biến nhất, ở hầu hết các loại hàng hoá. Ví dụ: Để sản xuất quần áo, thì có nhiều doanh nghiệp cùng tham gia sản xuất, các doanh nghiệp này về cơ bản có điều kiện sản xuất như; máy móc thiết bị, 9 nguyên vật liệu, nhân công… là như nhau. Trên thị trường, giá trị thị trường của quần, áo sẽ do giá trị cá biệt trung bình của các doanh nghiệp quyết định.
- Trường hợp thứ hai: Giá trị thị trường của hàng hoá do giá trị của bộ phận hàng hoá được sản xuất ra trong điều kiện sấu quyết định. Ví dụ: Trong ngành khai thác than, do chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, các doanh nghiệp khai thác than ngày càng phải khai thác ở những điều kiện khó khăn hơn như; khai thác hầm lò phải đi vào sâu trong lòng đất, điều kiện vận chuyển than từ nơi khai thác ra bến cảng xa hơn, năng xuất lao động có thể thấp hơn… nhưng những doanh nghiệp này vẫn chiếm một tỷ trọng lớn sản lượng tiêu thụ của ngành khai thác than và xã hội vẫn cần than để sản xuất và tiêu dùng. Cho nên, giá trị cá biệt của những doanh nghiệp này có ảnh hưởng quan trọng, đôi khi quyết định giá trị thị trường của sản phẩm than. - Trường hợp thứ ba: Giá trị thị trường hàng hoá do giá trị của đại bộ phận hàng hoá được sản xuất ra trong điều kiện tốt quyết định.
Ví dụ: Trong ngành trồng lúa ở nước ta. Đồng bằng Sông hồng và đồng bằng Nam bộ là 2 vùng trồng lúa chính, cung cấp đại bộ phận gạo cho cả nước và xuất khẩu. Đây là 2 vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn so với các vùng khác.