Chương 1: Cơ sở khoa học về việc thực thi chính sách người có công trên địa bàn huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định; Chương 2: Thực trạng thực thi chính sách người có công trên địa bàn huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định; Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng thực thi chính sách đối với người có công trên địa bàn huyện Nghĩa Hưng. 6 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƢỜI CÓ CÔNG 1. Chính sách đối với ngƣời có công 1. Một số khái niệm cơ bản 1.
Khái niệm về chính sách Theo Giáo trình hoạch định và Phân tích chính sách công của Học viện Hành chính do Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật xuất bản năm 2008 [tr.14], khái niệm về chính sách: là những hành động ứng xử của chủ thể với các hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động phát triển nhằm đạt mục tiêu nhất định. Qua sự khái quát, phân tích các khía cạnh cơ bản về khái niệm chính sách, luận văn đưa ra cách hiểu về chính sách như sau: Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó của chính phủ nó bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt được và cách làm để thực thi các mục tiêu đó. Những mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội - môi trường. Khái niệm chính sách xã hội Chính sách xã hội là một dạng chính sách được nhà nước ban hành nhằm cung cấp cho người dân những dịch vụ xã hội tốt nhất và các chính sách xã hội nhằm hỗ trợ cho các đối tượng khó khăn của xã hội.
Chính sách xã hội là biện pháp được đưa ra bởi Đảng và Nhà nước nhằm hỗ trợ cho các đối tượng chính sách và phục vụ cho lợi ích chung của xã hội. Hiện nay chính sách ở nước ta có 2 cấp độ khác nhau đang hiện hành đó là: + Chính sách xã hội được ban hành cho những người lao động trong xã hội và nhóm đối tượng này thường được gọi là chính sách xã hội và đối tượng xã hội. 7 Luan van + Chính sách về giai cấp là chính sách cho các tầng lớp trong xã hội hiện nay, với các nhóm xã hội cụ thể như: Tầng lớp thanh niên, tầng lớp tri thức, chính sách về dân tộc, chính sách về tôn giáo. Chính sách xã hội là chính sách được ban hành được nhà nước nhằm ổn định xxa hội thông qua những tác động cụ thể tác động đến các đối tượng khác nhau và được phân theo nhóm để hưởng chính sách xã hội mà nhà nước ban hành.
Khái niệm người có công Thấm nhuần đạo lý “Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây”, trong những năm qua dù bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào của đất nước, công tác thương binh, liệt sĩ và người có công luôn được coi trọng, được sự quan tâm chỉ đạo đặc biệt của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, sự hưởng ứng tham gia nhiệt tình và trách nhiệm của các ngành các cấp và toàn thể nhân dân. Hệ thống văn bản pháp luật, cơ chế chính sách về tôn vinh, ưu đãi, chăm sóc người có công ngày càng được hoàn thiện. Đặc biệt, Hiến pháp 2013 “Nhà nước, xã hội tôn vinh, khen thưởng, thực thi chính sách đối với người có công với nước” (Khoản 1, Điều 59). Ở mỗi thời kỳ, chế độ khác nhau thì chính sách người có công cũng khác nhau.
Nhưng suy cho cùng thì chính sách ưu đãi đối với người có công là sự ghi nhận những công lao của họ cho đất nước, là những chế độ đãi ngộ về vật chất và tinh thần, là sự bày tỏ lòng biết ơn đến những người đã hy sinh, đã cống hiến cho sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước. Trong mấy chục năm qua, Đảng và Nhà nước ta coi việc thực thi ưu đãi xã hội đối với người có công là quốc sách. Chủ trương đó đã được luật hóa bằng hai Pháp lệnh quan trọng đó là: Pháp lệnh “ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sỹ, gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng” và Pháp lệnh “Quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng”. Khái niệm người có công được hiểu theo 2 nghĩa rộng, hẹp khác nhau.
8 Luan van Theo nghĩa rộng, người có công là người bình thường, làm việc đại nghĩa, có công lao lớn đối với đất nước, đó là nghĩa vụ không bao giờ kể công và không đòi hỏi cộng đồng phải báo nghĩa. Cụ thể hơn, người có công là cống hiến của họ vì lợi ích của đất nước, được nhân dân tôn vinh và được Nhà nước thông qua cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ghi nhận theo qui định của pháp luật, đồng thời đảm bảo cho họ các chế độ ưu đãi về kinh tế, về chính trị, xã hội. Ở đây, có thể thấy rõ những tiêu chí cơ bản xác định nội hàm khái niệm người có công. Đó phải là những người có thành tích đóng góp hoặc cống hiến lớn lao, xuất sắc vì lợi ích chung của đất nước.
Những cống hiến đó có thể được thực thi trong các cuộc kháng chiến vì độc lập tự do của Tổ quốc trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Theo nghĩa hẹp, khái niệm người có công được xác định là những người tham gia hoặc giúp đỡ cách mạng, họ đã hy sinh cả cuộc đời hoặc một phần thân thể hoặc có thành tích đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Căn cứ pháp lý để thực thi chính sách hiện nay được quy định tại Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 ngày 16 tháng 7 năm 2012 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh ưu đãi người có công. Trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay, căn cứ các tiêu chuẩn, điều kiện đối với từng đối tượng là người có công mà nhà nước ta đã quy định thì: Người có công bao gồm những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam, nữ, tuổi tác, đã tự nguyện cống hiến sức lực, tài năng, trí tuệ, có người hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp của dân tộc.
Họ là những người có thành tích hoặc cống hiến xuất sắc phục vụ cho lợi ích của dân tộc được cơ quan có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật. Khái niệm Chính sách người có công: Chính sách người có công góp phần thể hiện tinh thần nhân văn của quốc gia. Nó không chỉ là sự giúp đỡ, chia sẻ mà còn là nghĩa vụ của nhà nước, nhân dân và toàn xã hội đối với những người có công. Chính sách người có công nhằm ghi nhận và tri ân những con người đã có công, đã có những cống hiến đặc biệt cho sự nghiệp đấu tranh và bảo vệ đất nước; nhằm đảm bảo công bằng xã hội đồng thời duy trì và phát triển những giá trị tinh thần cao đẹp của dân tộc, giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ tương lai.
Chính sách người có công là những quy định bằng văn bản của Nhà nước, đó là sự đãi ngộ đặc biệt cả về vật chất và tinh thần của Nhà nước và xã hội nhằm ghi nhận và đền đáp công lao đối với những người có công và thân nhân của họ. Nó thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đối với người có công, góp phần tạo ra sự công bằng, bình đẳng, ổn định, phát triển và tiến bộ xã hội. Đặc điểm, vai trò và các loại chính sách đối với người có công 1. Đặc điểm chính sách người có công Chính sách đối với người có công có đầy đủ các đặc điểm chính sách sau: Một là, chính sách nói chung và chính sách đối với người có công nói riêng bao giờ cũng liên quan đến con người.
Nó bao trùm trên mọi mặt của đời sống xã hội nói chung và đời sống của con người nói riêng, lấy con người làm đối tượng trung tâm tác động để hoàn thiện và phát triển con người, hình thành các chuẩn mực và giá trị xã hội. Hai là, chính sách người có công mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc, bởi vì mục tiêu cơ bản của nó là hiệu quả xã hội. Công bằng xã hội là nội dung cơ bản của chính sách người có công. Nhà nước sử dụng các chính sách đối với người có công như một công cụ để điều chỉnh các quan hệ xã hội, định hướng các giá trị mới, hướng vào cái thiện, cái tốt, hạn chế và đẩy lùi cái xấu, cái ác.
Ba là, chính sách người có công Nhà nước thể hiện trách nhiệm xã hội 10 Luan van cao, tạo những điều kiện, cơ hội như nhau để mọi người phát triển và hòa nhập cộng đồng. Hiệu quả của chính sách người có công là ổn định xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và đảm bảo công bằng xã hội. Bốn là, chính sách người có công còn mang tính kế thừa lịch sử, nó có sự thay đổi theo thời gian và tùy thuộc vào đặc điểm của từng quốc gia, dân tộc. Bất kỳ một khoa học nào cũng có đối tượng nghiên cứu của mình, đối tượng nghiên cứu của khoa học chính sách nói chung và chính sách người có công nói riêng là hệ thống chính sách cũng như quy trình chính sách trên thực tiễn (hoạch định, thực thi, đánh giá chính sách).
Ngoài ra, chính sách đối với người có công có điểm đặc thù: Là chính sách mang tính ổn định chính trị - xã hội, góp phần hỗ trợ người có công về vật chất và tinh thần bằng các chế độ để họ vơi đi phần nào nỗi đau thể xác cũng như nỗi đau về mặt tinh thần tổn thương do chiến tranh để lại. Văn bản pháp quy cao nhất là Pháp lệnh người có công do Quốc hội ban hành, dưới đó là Nghị định và các văn bản hướng dẫn của các Bộ, ban ngành liên quan. Vai trò chính sách đối với người có công Chính sách đối với người có công là những giá trị tinh thần cao đẹp của dân tộc, là mục tiêu chính trị xã hội quan trọng của mỗi đất nước.