Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THI ĐUA KHEN THƯỞNG 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về thi đua và khen thưởng Khái niệm về thi đua Có rất nhiều quan điểm, cách tiếp cận khác nhau về thi đua, có người cho rằng thi đua là phấn đấu, thi đấu để dành và đạt được cái gì đó trong cuộc sống, tuy nhiên trên góc độ nghiên cứu về quy định, khái niệm thi đua chúng ta tuân theo các quy định của pháp luật để đảm bảo tính chính thống và đúng đắn trong hoạt động khu vực công. Theo Điều 3 Luật thi đua, khen thưởng năm 2003 sửa đổi 2012, Thi đua là hoạt động có tổ chức với sự tham gia tự nguyện của cá nhân, tập thể nhằm phấn đấu đạt được thành tích tốt nhất trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Khen thưởng là việc ghi nhận, biểu dương, tôn vinh công trạng và khuyến khích bằng lợi ích vật chất đối với cá nhân, tập thể có thành tích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Mác là người đầu tiên nghiên cứu một cách khoa học về bản chất và nội dung thi đua.
Ông đánh giá cao vai trò của hiệp tác trong lao động, sự hiệp cộng lao động tạo ra sức mạnh tập thể lớn hơn sức mạnh của từng lao động cá nhân cộng lại. Mác viết: “Thi đua nảy nở trong quá trình hợp tác lao động, trong hoạt động chung và kế hoạch của con người với sự tiếp xúc xã hội tạo nên thi đua và sự nâng cao theo lối đặc biệt, nghị lực sinh động làm tăng thêm nghị lực riêng của từng người”. Trên cơ sở những quan điểm nền tảng của Mác và Ăng ghen về thi đua, Lênin đã nghiên cứu và đưa ra những quan điểm, tư tưởng cơ bản về thi đua xã hội chủ nghĩa, đó là phong trào tự nguyện, góp sức giải quyết khó khăn, xây dựng xã hội mới của quần chúng lao động được giải phóng khỏi ách áp bức bóc lột. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng quan niệm về thi đua lên tầm tư tưởng, coi thi đua là biểu hiện của lòng yêu nước, là những hành động cụ thể của mỗi cá nhân vì lợi ích chung của cộng đồng và xã hội.
8 Người nói: “Tưởng 9 lầm rằng thi đua là một việc làm khác với những công việc hàng ngày. Thật ra công việc hàng ngày chính là nền tảng thi đua. Thí dụ từ trước đến nay ta vẫn ăn, vẫn mặc, vẫn ở, nay ta thi đua ăn, mặc, ở cho sạch, cho hợp vệ sinh, cho khỏi đau ốm. Xưa nay ta vẫn làm ruộng, nay ta thi đua làm cho ruộng tốt hơn, sản xuất nhiều hơn, mọi việc đều thi đua từ như vậy”.
Như vậy, thi đua là một hoạt động có tổ chức dựa trên nguyên tắc tự nguyện. Nội dung thi đua được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc quy định và khi tặng danh hiệu phải dựa trên các căn cứ, tiêu chuẩn cụ thể. Đó cũng là những điểm khác nhau giữa thi đua có tổ chức và thi đua tự phát. Do vậy thi đua là hoạt động nhằm thu được kết quả nhất định, thi đua phải đạt thành tích tốt nhất.
Thi đua là một hiện tượng khách quan, là quy luật phát triển tất yếu trong quá trình hợp tác lao động của con người, có hợp tác lao động thì có nảy sinh ra thi đua. Thi đua là cùng nhau đem hết tài năng, sức lực ra làm nhằm thúc đẩy lẫn nhau đạt thành tích tốt nhất trong chiến đấu, sản xuất, công tác học tập. Nguyên tắc quan trọng nhất của thi đua yêu nước là đoàn kết, hợp tác cùng phát triển, phổ biến sáng kiến kinh nghiệm; mọi người giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ. Thi đua yêu nước chính là biện pháp xây dựng con người mới, rèn luyện nhân cách cao đẹp cho người lao động.
Khái niệm khen thưởng Thi đua là khái niệm chỉ sự phấn đấu trong các hoạt động lao động, sản xuất, cống hiến nghệ thuật, công tác, học tập của mỗi người, mỗi tập thể, cơ quan, đơn vị, còn khen thưởng thì lại là bước tiếp theo của thi đua, hay có thể hiểu rằng thi đua là điều kiện, tiền để của khen thưởng. Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Trong một nước thưởng, phạt phải nghiêm minh thì nhân dân mới yên ổn, kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công”. Khen thưởng đúng người, đúng việc, kịp thời có tác dụng động viên, giáo dục, nêu gương. Nguyên Tổng Bí thư Trường Chinh của Đảng cộng sản Việt Nam cho rằng: “Khen thưởng là một vấn đề thuộc phạm trù khoa học xã hội.
Công tác khen thưởng cũng như trừng phạt là một vấn đề thực hiện phát sinh và tồn tại trong quá trình phát sinh, phát triển con người. Giai cấp thống trị sử dụng nó như là một vũ khí để duy trì 1 quyền lực thống trị của mình”. Mục đích căn bản của khen thưởng là khích lệ, khơi dậy một cách đúng đắn động cơ làm việc của mọi người, khiến cho họ coi việc thực hiện mục tiêu của tổ chức cũng như thực hiện nhu cầu của bản thân, từ đó làm cho tính tích cực và sáng tạo của họ tiếp tục được duy trì và phát huy, góp phần xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã đặt nền móng đầu tiên hình thành bộ máy làm công tác thi đua, khen thưởng ở Việt Nam, cụ thể: Năm 1947, Người lần lượt ký các sắc lệnh thành lập Viện Huân chương, Sắc lệnh đặt ra các Huân chương Quân công, Huân chương chiến sĩ, Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập; năm 1948: Huân chương Kháng chiến; năm 1950: Huân chương Lao động.
Tiếp đó Chính phủ cũng đã quy định các danh hiệu Anh hùng Quân đội, Anh hùng Nông nghiệp, Anh hùng Công nghiệp (năm 1952) để khen thưởng kịp thời những cá nhân và đơn vị có thành tích trong cuộc kháng chiến kiến quốc. Công tác khen thưởng là một quá trình thực hiện các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, của các cán bộ công chức, cơ quan làm công tác thi đua khen thưởng; để ghi nhận, biểu dương, tôn vinh công lao và thành thích xuất sắc của các cá nhân và tập thể trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Giữa Thi đua và khen thưởng luôn tồn tại mối quan hệ chặt chẽ, biện chứng với nhau. Thi đua là cơ sở của khen thưởng; tổ chức tốt phong trào thi đua thì kết quả khen thưởng cao.
Khen thưởng chính xác, kịp thời, đúng người, đúng việc sẽ có tác dụng động viên cho mùa thi đua sau đạt kết quả cao hơn. Do vậy không coi nhẹ khen thưởng trong thi đua, ngược lại không có thi đua thì không có căn cứ đánh giá thành tích khen thưởng. Thi đua và khen thưởng cũng độc lập với nhau, không phụ thuộc vào nhau; không phải tất cả các hình thức khen thưởng đều xuất phát từ thi đua như: Khen thưởng đối ngoại, khen tổng kết thành tích kháng chiến, khen đột xuất, khen thưởng người có quá trình lâu dài trong cơ quan, tổ chức đoàn thể… Ngược lại, khi tham gia phong trào thi đua, mục tiêu cuối cùng mà cá nhân, tổ chức hướng tới là kết quả trong thực hiện công việc của mình, chứ không phải là để được khen thưởng, tôn vinh. 1 Đặc điểm cơ bản trong công tác thi đua, khen thưởng Dựa trên thực tế công tác thi đua khen thưởng và các quy định liên quan, có thể nhận thấy đặc điểm cơ bản của hoạt động thi đua, khen thưởng như sau: Thứ nhất, mỗi danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng đều được cụ thể hóa bằng các tiêu chuẩn đánh giá.
Có thể nói, tiêu chuẩn được đặt ra phù hợp với thực tiễn chính là thước đo để căn cứ vào đó, từng cơ quan, đơn vị lượng hóa thành hệ thống các tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá cho phù hợp với đặc điểm cụ thể của cơ quan, đơn vị mình. Mọi việc xét, đề nghị khen thưởng phải căn cứ trên các tiêu chuẩn đã được quy định. Do đó, trước khi tổng kết, bình xét thi đua, khen thưởng, các cơ quan, đơn vị phải xây dựng được hệ thống các tiêu chuẩn, tiêu chí cụ thể và phổ biến, quán triệt sâu rộng để mọi chủ thể tham gia phong trào thi đua biết và phấn đấu đạt thành tích cao nhất. Thứ hai, việc lựa chọn danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng phải được lựa chọn dân chủ, công bằng và khách quan.
Đối với tập thể, để có thể lựa chọn được những tập thể xuất sắc tiêu biểu đề xuất khen thưởng, cần có sự so sánh với các tập thể khác có những mối tương đồng: Có thể là các phòng, ban trong cùng đơn vị; giữa các cơ quan, đơn vị có sự tương đồng về chức năng, nhiệm vụ trong cùng một khối, cụm thi đua; giữa cơ quan, đơn vị của địa phương này với cơ quan, đơn vị của địa phương khác; giữa địa phương này với địa phương khác có sự tương đồng về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội… Đối với cá nhân, cần đánh giá, so sánh dựa trên sự tương đồng về chức năng nhiệm vụ được giao, chức vụ, lĩnh vực ngành nghề… Do đó, để đảm bảo công bằng, khách quan trong xét thi đua, khen thưởng, các cơ quan, đơn vị, địa phương cần xây dựng các bộ tiêu chí riêng biệt dành cho cán bộ lãnh đạo, quản lý và người lao động trực tiếp. Yêu cầu đối với công tác thi đua, khen thưởng Công tác thi đua, khen thưởng phải thực hiện dựa trên các nguyên tắc luật định để đảm bảo quyền lợi công bằng và công khai giữa những cá nhân, tổ chức tham gia thi đua và bình xét danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng. Điều 6 Luật thi đua, khen thưởng ghi nhận 02 nguyên tắc thi đua gồm: Tự nguyện, tự 1 giác, công khai; Đoàn kết, hợp tác và cùng phát triển; và 04 nguyên tắc khen 1 thưởng gồm: Chính xác, công khai, công bằng, kịp thời; Một hình thức khen thưởng có thể tặng nhiều lần cho một đối tượng; không tặng thưởng nhiều hình thức cho một thành tích đạt được; Bảo đảm thống nhất giữa tính chất, hình thức và đối tượng khen thưởng; Kết hợp chặt chẽ động viên tinh thần với khuyến khích bằng lợi ích vật chất. Thi đua hay khen thưởng đều phải bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giới trong thi đua, khen thưởng.