Chương 1: Khái quát về pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở Chương 2: Thực trạng pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở Kết luận Danh mục tài liệu tham khảo 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 KHÁI QUÁT VỀ PHÁP LUẬT THỰC HIỆN DÂN CHỦ CƠ SỞ 1. Thực hiện dân chủ cơ sở và pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở 1. Thực hiện dân chủ cơ sở và pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở 1. Khái niệm dân chủ Thuật ngữ dân chủ xuất hiện từ thời cổ đại.
Người đầu tiên đưa ra khái niệm dân chủ là nhà sử học, nhà chính trị học người Hy Lạp Hêrôđốt (484 - 425 trước Công nguyên) khi ông xem xét các thể chế chính trị trong lịch sử. Theo ông, lịch sử đã xuất hiện ba kiểu thể chế chính trị: quân chủ, quý tộc và dân chủ, trong đó dân chủ là thể chế chính trị do nhân dân nắm quyền lực thông qua con đường bầu cử. Để chỉ một hiện thực dân chủ đã được thiết lập trên thực tế, trong ngôn ngữ đã xuất hiện thuật ngữ democratia, nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân (democratia là từ ghép của hai từ demos là nhân dân, cratos là quyền lực). Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về dân chủ, do cách thức tiếp cận, mục đích tiếp cận khác nhau.
Dân chủ có nghĩa là quyền lực của nhân dân, là một trong những hình thức tổ chức chính trị nhà nước của xã hội mà đặc trưng là việc tuyên bố chính thức nguyên tắc thiểu số phải phục tùng đa số, thừa nhận quyền tự do bình đẳng của công dân, thừa nhận nhân dân là cội nguồn của quyền lực. Khi bàn về khái niệm dân chủ là gì, các nhà khoa học đề xuất khá nhiều ý kiến: - Ý kiến thứ nhất cho rằng, dân chủ là sản phẩm của quan hệ giai cấp, là tổ chức quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền đối với xã hội. - Ý kiến thứ hai hiểu khái niệm dân chủ bao hàm ba nội dung cơ bản là nội dung chính trị (dân chủ chính trị), nội dung văn minh nhân đạo (dân chủ xã hội là thành quả quan trọng nhất của văn minh và nhân đạo của loài người) và nội dung xã hội của dân chủ (dân chủ xã hội là hình thức tồn tại của xã hội hiện đại). - Ý kiến thứ ba cho rằng, dân chủ cần được xem xét theo nhiều khía cạnh, nhưng với nghĩa chung nhất, phổ biến nhất, dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân.
4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Ý kiến thứ tư của một số nhà khoa học, tôn vinh dân chủ là một công trình bi tráng trong hàng chục vạn năm của loài người. Đó là khát vọng, lý tưởng chung mà hàng triệu con tim và khối óc cùng hướng tới, đấu tranh không mệt mỏi để giành lấy dù phải hy sinh xương máu. Dân chủ là khát vọng mà chính chúng ta đang vươn tới. - Ý kiến thứ năm cho rằng, dân chủ không chỉ là một vấn đề chính trị hay xã hội, mà xét theo bề sâu chính là một vấn đề văn hóa.
Bởi thế, xử lý vấn đề dân chủ không thể tách rời khỏi mối quan hệ truyền thống - hiện đại trong văn hóa. Dân chủ còn là một yếu tố của văn hóa, một thành tựu của văn hóa đã có từ lâu đời trong truyền thống văn hóa của dân tộc. Theo các nhà kinh điển: dân chủ là sản phẩm tự quyết của nhân dân, phản ánh sự tồn tại của con người với tất cả ý trí, tài năng và lợi ích của họ; dân chủ là sản phẩm của đấu tranh giai cấp; quyền dân chủ bị chế định bởi tương quan giai cấp, trạng thái phát triển của sản xuất và trình độ văn hóa chung, trước hết là văn hóa chính trị của nhân dân; dân chủ là một hình thức Nhà nước mà ở đó thừa nhận quyền ngang nhau của dân cư trong việc xác định cơ cấu nhà nước và quản lý xã hội. Như vậy, dân chủ là vấn đề phức tạp, nhạy cảm, có nội dung rộng lớn và luôn luôn mới, gắn với những tiến bộ về lịch sử và văn hóa của loài người.
Để hiểu rõ bản chất, nội dung và tính chất của dân chủ, phải xem xét nó dưới nhiều góc độ, khía cạnh: là phương thức của phong trào chính trị xã hội của quần chúng; là hình thức nhà nước, hình thức tổ chức và thực hiện quyền lực xã hội; là một hệ thống quyền hành, tự do và trách nhiệm của công dân được quy định bởi hiến pháp và pháp luật; là nguyên tắc tổ chức toàn thể xã hội và với tư cách là một chế độ chính trị. Tuy tiếp cận vấn đề dân chủ dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng chung quy lại các ý kiến đều thống nhất ở luận điểm: Dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân. Như vậy, dù xem xét dân chủ dưới góc độ nào thì thực chất bản chất, nội dung, tính chất và khuynh hướng phát triển của dân chủ là hoàn toàn phụ thuộc vào chỗ quyền lực chính trị thuộc về tầng lớp nào, giai cấp nào và phục vụ cho tầng lớp nào, giai cấp nào trong xã hội đó. Và điều đó lại lần nữa chứng minh thêm cho tính đúng đắn của luận điểm: sự khác nhau về chất giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa và dân chủ tư sản.
5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Dân chủ được bảo đảm và phát huy bằng nhiều biện pháp. Tuy nhiên, việc thực thi dân chủ phải luôn gắn liền với mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân. Ở Việt Nam, sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á được thiết lập. Nhân dân ta từ địa vị nô lệ làm thuê đã trở thành người chủ của đất nước.
Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, Miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội, nhân dân Miền Bắc đã trở thành người chủ của mọi quyền lực trong đó có quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước và hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa được thiết lập trên phạm vi cả nước. Từ đó đến nay nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đã và đang được xây dựng phát huy vai trò ngày càng to lớn, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và đổi mới đất nước. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: "Dân chủ, hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do. Dân chủ cũng được vận dụng vào tổ chức và hoạt động của những tổ chức và thiết chế chính trị nhất định" [64, tr.
Thực hiện dân chủ cơ sở, pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã được khẳng định trong đường lối, chính sách của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước. Quyền dân chủ của công dân được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá. Hiệu quả của dân chủ thể hiện trực tiếp đến nhân dân là ở cấp cơ sở. Cơ sở xã, phường, cơ quan, doanh nghiệp v.
là nơi trực tiếp thực hiện đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước; là địa bàn nhân dân sinh sống, lao động, sản xuất, học tập và công tác; là nơi diễn ra các mối quan hệ nhiều mặt giữa các tầng lớp nhân dân với các cấp ủy Đảng và chính quyền, cán bộ, đảng viên, công chức điều hành và xử lý công việc hàng ngày. Nhân dân đòi hỏi được biết, được bàn và được tham gia giải quyết những vấn đề đặt ra ở cơ sở, đồng thời có yêu cầu kiểm tra, giám sát hoạt động hàng ngày của cấp ủy, chính quyền và cán bộ lãnh đạo. Điều đó có nghĩa là nhân dân có quyền làm chủ và được hưởng lợi từ cơ sở và ở cơ sở. Nhận thức rõ bản chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa, ngay từ khi chính quyền nhân dân mới được thành lập, Hồ Chí Minh đã khẳng định quyền lực nhà nước là 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của nhân dân.
Theo đó, “Nhà nước ta phải phát triển quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của toàn dân, để phát huy tính tích cực và sáng tạo của nhân dân, làm cho mọi người công dân Việt Nam thực sự tham gia công việc quản lý của nhà nước”[37, tr56]. Người nhấn mạnh việc thực thi dân chủ ở từng địa phương, từng cơ sở, từng cán bộ, từng người dân,.và từng công việc phải cụ thể, rõ ràng. Vận động tất cả lực lượng, mỗi cán bộ, đảng viên.thậm chí những người dân có nhận thức đều phải có trách nhiệm làm cho dân hiểu được quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong vị thế của người làm chủ. Người yêu cầu “Bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương”[40, tr.
Khi dân được biết, được hiểu, được bàn bạc xây dựng kế hoạch của địa phương, cơ sở mình, họ sẽ dùng chính sức lao động của họ và những việc làm cụ thể để cống hiến cho sự phát triển chung một cách tự giác. Ngày nay phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" là thể hiện tư tưởng của Người. Từ Đại hội VI, Đảng ta đã chủ trương thực hiện có nề nếp phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" và chủ trương đó ngày càng được thực tế kiểm nghiệm tính cần thiết khách quan, và để quá trình dân chủ hoá thực sự đi vào cuộc sống, chúng ta cần cụ thể hoá phương châm này. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII (tháng 6/1997) khẳng định khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền dân chủ của nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất.
Theo tinh thần của Nghị quyết đó, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị 30/CT - TW tháng 2/1998 và Chính phủ đã ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, cơ quan và doanh nghiệp nhà nước.