phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 1. KHÁI NIỆM, ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI CỦA THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 1.1 Khái niệm thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân Trước khi nghiên cứu về khái niệm thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các VAHS của VKSND chúng ta cần tìm hiểu một vài nét về các khái niệm “quyền công tố”, “thực hành quyền công tố” và “kiểm sát xét xử các VAHS”. Trước hết, quyền công tố là một khái niệm pháp lý gắn liền với bản chất Nhà nước và xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước.
Việc tổ chức bộ máy Nhà nước để thực hiện quyền công tố trong mỗi kiểu Nhà nước đều khác nhau, luôn gắn liền với quá trình phát triển Nhà nước, tổ chức quyền lực Nhà nước, hoàn thiện và văn minh của hệ thống pháp luật. Hiện nay, nước ta có nhiều các quan điểm khác nhau về quyền công tố như: Quan điểm thứ nhất cho rằng “quyền công tố” chỉ là biện pháp pháp lý, là một trong những thẩm quyền của VKS dùng để thực hiện chức năng của VKS việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng; Tất cả các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật là thực hành quyền công tố [30, tr. Quan điểm này đánh đồng quyền công tố với kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS. Do vậy, công tố không phải là một chức năng độc lập của VKS mà chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật.
Nếu hiểu quyền công tố như trên là quá rộng và chưa 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chính xác. Bởi vì, chức năng công tố và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật là hoàn toàn độc lập và song song tồn tại. Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động của KSV thì 2 chức năng này có mối quan hệ biện chứng với nhau. Quan điểm thứ hai cho rằng: “Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho VKS truy tố kẻ phạm tội ra Tòa án để xét xử và bảo vệ sự buộc tội tại phiên tòa sơ thẩm” [32, tr.
Theo quan điểm này thì quyền công tố không có ở giai đoạn điều tra, mà giai đoạn điều tra chỉ là giai đoạn để chuẩn bị thực hành quyền công tố ở phiên tòa; thực chất quan điểm này đã đồng nhất quyền công tố với quyền buộc tội của VKS tại phiên tòa sơ thẩm. Nếu hiểu như vậy thì phạm vi quyền công tố quá hẹp, đồng thời tạo ra sự nhầm lẫn giữa quyền công tố với thực hành quyền công tố. Quan điểm thứ ba cho rằng: “Quyền công tố là quyền được Nhà nước giao cho VKS truy cứu TNHS đối với người phạm tội. Để làm được điều này, cơ quan công tố có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội.
Trên cơ sở đó để truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa” [36, tr. Theo tác giả nhận thấy quan điểm thứ ba là hợp lý bởi lẽ: Xuất phát từ lịch sử Nhà nước và pháp luật thế giới nói chung cũng như lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam nói riêng, quyền công tố luôn luôn gắn liền với bản chất Nhà nước, với cách thức tổ chức thực hiện quyền lực ở mỗi quốc gia trong điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Mặt khác, Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VIII khóa VII khẳng định: “Tập trung làm chức năng công tố, bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều bị phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời, đặc biệt là tội xâm phạm an ninh quốc gia và tội tham nhũng. Đối với việc bắt giữ, xét xử oan sai cần truy cứu trách nhiệm của những người ra lệnh và người thừa hành, đồng thời minh oan công khai, thỏa đáng đối với người bị bắt giữ, xét xử sai bảo đảm quyền công dân 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đúng pháp luật” [16, tr.
Thêm vào đó, theo quy định tại Điều 137 Hiến pháp 1992 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001 và Điều 01, Điều 03 Luật Tổ chức VKSND năm 2002 quy định VKSND có hai chức năng cơ bản là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Và trong báo cáo thẩm tra của văn bản pháp luật của Quốc hội số 729 ngày 14-3-2002 về dự án Luật Tổ chức VKSND đã xác định “Hoạt động công tố chỉ có trong các lĩnh vực hình sự, bắt đầu từ khi phát hiện, khởi tố vụ án đến truy tố bị can và tranh tụng tại phiên tòa”[10]. Từ những căn cứ vừa trình bày ở trên theo tác giả: “Quyền công tố ở Việt Nam là quyền của VKS nhân danh công quyền thực hiện việc truy cứu TNHS (buộc tội) đối với người phạm tội và bảo vệ việc buộc tội trước phiên tòa nhằm đảm bảo việc truy tố đúng người, đúng tội và đúng pháp luật”. Như vậy, quyền công tố ở nước ta chỉ có trong lĩnh vực TTHS, quyền công tố là một khái niệm luôn luôn gắn liền với tội phạm, sự buộc tội và bảo vệ việc buộc tội nhân danh Nhà nước đối với người phạm tội.
Thứ hai, về khái niệm thực hành quyền công tố: Mặc dù có nội dung cụ thể nhưng “quyền công tố” vẫn là một khái niệm trừu tượng, mang tính lý thuyết và tồn tại dưới dạng khả năng. Để thực hiện quyền này, Nhà nước phải tổ chức ra một bộ máy và bằng hoạt động của bộ máy ấy “quyền công tố” mới trở thành hiện thực. Nói cách khác, thực hành quyền công tố là việc thực hiện các hành vi tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật TTHS để truy cứu TNHS người phạm tội, đưa người phạm tội ra xét xử trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó. “Quyền công tố” và “thực hành quyền công tố” luôn gắn chặt với nhau, không tách rời nhau trong hoạt động TTHS và mối quan hệ này cũng giống như mối quan hệ giữa “ngôn ngữ” và “lời nói”.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy rất nhiều người nhầm lẫn hoặc nhận thức sai lầm giữa quyền công tố và thực hành quyền công tố, giữa thẩm quyền 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com VKS với các quyền năng pháp lý để thực hành thẩm quyền đó, hành vi nào là thực hành quyền công tố và hành vi nào là thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp. Như đã nói ở phần trên, quyền công tố là quyền nhân danh công quyền buộc tội người phạm tội và bảo vệ buộc tội đó trước phiên tòa. Để đảm bảo việc thực hiện quyền đó, Nhà nước quy định các quyền năng pháp lý mà cơ quan có thẩm quyền được áp dụng để truy cứu TNHS đối với người phạm tội, cơ quan được giao thẩm quyền đưa vụ án ra tòa để xét xử và bảo vệ buộc tội đó gọi là cơ quan thực hành quyền công tố. Thực hành quyền công tố được hiểu là việc Nhà nước tổ chức ra đại diện của mình và giao cho đại diện ấy những quyền năng pháp lý để thực hiện việc buộc tội đối với người phạm tội và bảo vệ buộc tội đó trước phiên tòa.
Việc tổ chức thực hành quyền công tố ở mỗi quốc gia khác nhau tùy thuộc vào điều kiện, cụ thể của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, cơ quan duy nhất được giao chức năng thực hành quyền công tố là VKS, cơ quan này có trách nhiệm thực hành quyền công tố ngay từ khi khởi tố VAHS. Như vậy, thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các biện pháp do luật định để truy cứu TNHS đối với người phạm tội trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử. Thứ ba, khi nghiên cứu về kiểm sát xét xử các VAHS: Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, trong khoa học pháp lý khi đề cập về tổ chức và hoạt động bộ máy nói chung và cơ quan tư pháp nói riêng không phải là vấn đề mới nhưng rất phức tạp mang tính thời sự.
Trong công cuộc đổi mới đất nước, vấn đề xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước có ý nghĩa hết sức to lớn. Tuy nhiên, một thực tế là trong một thời gian dài chúng ta tập trung vào lĩnh vực lập pháp và hành pháp mà chưa quan tâm đúng mức đến lĩnh vực tư pháp. Có thể nói rằng, trước Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ chính trị cũng có những quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp, sau Nghị quyết 49- NQ/TW là Nghị quyết đầu tiên về cải cách tư pháp ở nước ta là một cách toàn 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Hơn nữa, lần đầu tiên Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định về tổ chức quyền lực Nhà nước mới xuất hiện thuật ngữ quyền tư pháp, quyền lực Nhà nước là thống nhất sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp (Điều 2).
Xuất phát từ những lý do trên, cho đến nay cách hiểu về tư pháp, quyền tư pháp, cơ quan tư pháp, hoạt động tư pháp, kiểm sát hoạt động tư pháp còn nhiều điểm khác nhau. Cùng với chức năng thực hành quyền công tố, VKS còn có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp. Trước khi làm rõ về kiểm sát xét xử VAHS, cần hiểu về khái niệm về kiểm sát hoạt động tư pháp. Theo từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên: “Kiểm” là xét lại, xem xét một hiện tượng của đời sống xã hội làm cơ sở phục vụ cho việc duy trì, uốn nắn, tác động vào nó làm cho các hiện tượng đó phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt.