Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 1. KHÁI NIỆM QUYỀN CÔNG TỐ VÀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm quyền công tố Trong khoa học luật tố tụng hình sự (TTHS), việc xác định khái niệm quyền công tố và theo đó là THQCT có ý nghĩa lí luận và thực tiễn rất quan trọng. Giải quyết tốt vấn đề này giúp cho việc xác định chính xác vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của VKS trong hệ thống cơ quan nhà nước.
Có thể tóm tắt các quan điểm khác nhau đó thành 4 nhóm chính như sau: - Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng, quyền công tố gắn liền với sự phát triển của khoa học pháp lý, khi mà các khái niệm dân chủ và quyền con người được đề cao, đòi hỏi phải có một cơ quan thay mặt Nhà nước đứng ra bảo vệ quyền bị xét xử bởi các cơ quan tư pháp. - Nhóm quan điểm thứ hai cho rằng, quyền công tố là một quyền độc lập, chỉ có trong xã hội dân chủ, nhằm bảo vệ quyền của các chủ thể quan hệ pháp luật khi tham gia tố tụng tại phiên tòa và thực hiện các quyền theo quy định của pháp luật. Cơ quan công tố là mối dây liên lạc giữa các cơ quan công quyền với quần chúng, giữa các cơ quan công quyền với nhau nhằm phục vụ lợi ích hợp pháp của các bên theo quy định của pháp luật. Những người theo quan điểm này nhấn mạnh quyền công tố là một loại quyền năng mà khi có sự phân chia triệt để ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp thì cần phải có một loại cơ quan đặc biệt để thực hiện quyền tư pháp nhưng "chống" lại 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyền xét xử nhằm bảo vệ các đạo luật, bảo vệ Chính phủ và các thể nhân bị Tòa án xét xử, đó là quyền công tố.
- Nhóm quan điểm thứ ba cho rằng, quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước, đại diện công quyền để đưa các vụ việc vi phạm trật tự pháp luật thống trị ra cơ quan xét xử, do đó quyền công tố không thể xuất hiện cùng với Nhà nước mà chỉ xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Tòa án với tư cách là cơ quan xét xử chuyên nghiệp và độc lập [25]. - Nhóm quan điểm thứ tư cho rằng, quyền công tố là một khái niệm pháp lý, gắn liền với bản chất của Nhà nước và xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật. Quyền công tố tồn tại trong tất cả các kiểu Nhà nước, từ Nhà nước chủ nô đến các Nhà nước đại diện [42]. Qua nghiên cứu lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới cho thấy các cơ quan chuyên trách thực hiện quyền công tố xuất hiện khá muộn, gắn liền với cuộc đấu tranh chống lại chế độ chuyên chế, phi dân chủ, thực hiện sự phân chia quyền lực trong bộ máy nhà nước.
Tuy nhiên, việc ra đời của các cơ quan chuyên trách thực hiện quyền công tố không đồng nhất với quyền công tố. Quyền công tố xuất hiện từ khi có Nhà nước và pháp luật, nó luôn gắn liền với bản chất của Nhà nước và là một một bộ phận không thể tách rời của công quyền và xuất hiện cùng với Nhà nước. Nhà nước xuất hiện và tồn tại khi xuất hiện và tồn tại giai cấp (xuất hiện và tồn tại những đối kháng mang tính giai cấp). Để quản lý xã hội, Nhà nước phải ban hành pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội, giữ cho các quan hệ xã hội được thực hiện theo ý chí của giai cấp thống trị nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị.
Trong bất kỳ một xã hội nào, cũng tồn tại những mâu thuẫn mang tính giai cấp và có những hành vi đấu tranh giai cấp dưới các hình thức khác nhau, biểu hiện cụ thể là những hành vi vi phạm pháp luật chống lại ý chí của giai cấp thống trị, đe dọa đến quyền thống trị của Nhà nước mà cần phải trừng trị. Để trừng trị người vi phạm pháp luật thì Nhà nước phải buộc được tội họ thông qua một cơ quan 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của Nhà nước, đại diện cho Nhà nước. Quyền buộc tội của Nhà nước chính là quyền công tố, quyền này có thể do một cá nhân, một cơ quan được Nhà nước giao để thực hiện nó tùy thuộc vào sự phát triển của tổ chức bộ máy nhà nước qua các thời kỳ lịch sử và phụ thuộc vào bản chất của các kiểu Nhà nước. Mặt khác, qua nghiên cứu so sánh lịch sử tư pháp hình sự trên thế giới cho thấy, về cơ bản khái niệm quyền công tố đã được biết đến ngay từ những thời đại xa xưa của xã hội loài người.
Chẳng hạn, ở Nhà nước chiếm hữu nô lệ Hy Lạp cổ đại vào thế kỷ V trước Công nguyên đã tồn tại hai hình thức tố tụng - công tố (hoạt động tố tụng đối với các vụ án mà trong đó động chạm trực tiếp hay gián tiếp đến các lợi ích của Nhà nước khi mà người đại diện của nó bị thiệt hại do sự vi phạm pháp luật) và tư tố (hoạt động tố tụng đối với các vụ án xảy ra do sự vi phạm đến các lợi ích riêng của ai đó); còn ở La Mã cổ đại trong thời kỳ tan rã của nền dân chủ quân sự và hình thành Nhà nước chiếm hữu nô lệ, thì công tố đã được tiến hành đối với cả các vụ án quan trọng nhất trực tiếp xâm hại (hoặc đe dọa nghiêm trọng) đến trật tự xã hội - các lợi ích công cộng (delicta publica), khác với các vụ án động chạm đến các lợi ích cá nhân (delicta privata). Từ những lí do trên, chúng tôi có cùng quan điểm với nhóm quan điểm thứ tư là: Quyền công tố là một khái niệm pháp lý, gắn liền với bản chất của Nhà nước và xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật. Quyền công tố tồn tại trong tất cả các kiểu Nhà nước, từ Nhà nước chủ nô đến các Nhà nước đại diện. Ở nước ta hiện nay thì khái niệm về quyền công tố còn có nhiều quan điểm khác nhau và khái quát lại thì có một số quan điểm sau: - Quan điểm thứ nhất đồng nhất khái niệm quyền công tố với khái niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS.
Có thể thấy rõ quan điểm này xuất phát từ chức năng của VKS để xem xét quyền công tố. Quan điểm này cho rằng tất cả các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật đều là 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Theo quan điểm này, công tố không phải là một chức năng độc lập của VKS mà chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật [26]. Theo chúng tôi, quan điểm trên là chưa chính xác, đã đánh đồng quyền công tố với quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS, phủ nhận tính độc lập của hai quyền năng trên mặc dù chúng có nội dung và phạm vi tác động khác nhau.
- Quan điểm thứ hai cho rằng, quyền công tố là quyền Nhà nước giao cho VKS truy tố kẻ phạm tội ra Tòa án, thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa. Quan điểm này nhấn mạnh vai trò duy nhất của VKS trong việc thực hiện quyền công tố chỉ ở một lĩnh vực TTHS và ở một giai đoạn duy nhất của tố tụng hình sự là giai đoạn xét xử sơ thẩm [39]. Theo chúng tôi, quan điểm này đã thu hẹp khái niệm, nội dung, phạm vi của quyền công tố, không phản ánh được đầy đủ bản chất của quyền này. Bản chất của công tố là buộc tội của Nhà nước đối với người thực hiện hành vi phạm tội.
Hoạt động buộc tội không chỉ trong việc truy tố người phạm tội ra trước Tòa án mà được thực hiện xuyên suốt trong quá trình điều tra. - Quan điểm thứ ba cho rằng, quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước để đưa các vụ việc vi phạm trật tự pháp luật ra cơ quan xét xử để bảo vệ lợi ích Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật [41]. Người theo quan điểm này cho rằng, quyền công tố xuất hiện từ khi có Nhà nước và pháp luật, được thể hiện đầu tiên trong lĩnh vực hình sự, TTHS, cùng với sự phát triển của xã hội, của các ngành luật, quyền công tố được mở rộng sang lĩnh vực dân sự, tố tụng dân sự và tiếp tục mở rộng sang các lĩnh vực tố tụng tư pháp khác. Theo chúng tôi, quan điểm trên đã quá mở rộng khái niệm, nội dung và phạm vi quyền công tố, xóa nhòa ranh giới giữa TTHS và các lĩnh vực tố tụng khác.
Bởi bản chất của quyền công tố là quyền buộc tội của Nhà nước đối với người thực hiện hành vi phạm tội, nên quyền công tố chỉ có trong lĩnh 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vực TTHS. Các lĩnh vực tố tụng khác như tố tụng dân sự, tố tụng hành chính VKS chỉ kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các chủ thể tham gia vào các hoạt động tố tụng đó. - Quan điểm thứ tư cho rằng, quyền công tố là quyền Nhà nước giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) và áp dụng các chế tài hình sự đối với người phạm tội. Nói cách khác, quyền công tố do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự và thi hành án hình sự.
Đó là hoạt động của Điều tra viên, KSV và những người khác được pháp luật quy định có trách nhiệm xác định kẻ phạm tội cũng như các căn cứ để kết tội và áp dụng các hình phạt đối với người phạm tội [40]. Quan điểm nêu trên cho rằng không chỉ Cơ quan điều tra (CQĐT) và Cơ quan công tố mà cả Cơ quan xét xử và Cơ quan thi hành án đều là chủ thể thực hiện quyền công tố. Theo chúng tôi, quan điểm trên đã nhầm lẫn chủ thể của quyền công tố, mỗi một giai đoạn TTHS đều do một chủ thể nhất định trong quá trình TTHS tiến hành với chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định cho mỗi chủ thể. Hiểu khái niệm quyền công tố theo quan điểm trên đã nhầm lẫn giữa các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử.