Chương 1. Khái quát về pháp luật thừa kế trong Hoàng Việt luật lệ thời Nguyễn. Những quy định về thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ. Đánh giá giá trị những quy định về thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ thời Nguyễn.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ PHÁP LUẬT THỪA KẾ TRONG HOÀNG VIỆT LUẬT LỆ THỜI NGUYỄN 1. Những cơ sở của pháp luật thừa kế trong Hoàng Việt luật lệ thời Nguyễn 1. Cơ sở Nho giáo Thừa kế là một quan hệ phát sinh trong đời sống xã hội với yếu tố nền tảng là gia đình, dòng họ. Vấn đề gia đình được Nho giáo đặc biệt quan tâm, tạo cơ sở vững chắc cho những chế định về quan hệ thừa kế trong cổ luật.
Trong lịch sử gần hai nghìn năm phát triển của Nho giáo ở Việt Nam, phải đến thời Nguyễn thì những phạm trù của học thuyết này mới được các Nho sĩ nghiền ngẫm, luận giải một cách sâu sắc, trở thành ngọn cờ tinh thần thống nhất được toàn xã hội trên một nền tảng đạo lý, lễ nghi, tâm lý, nếp sống, một diện mạo văn hóa Nho giáo khá điển hình [617; 6]. Các quan hệ trong đời sống người dân và kể cả pháp luật thời kỳ này đều ít nhiều đậm nét Nho giáo. Điều đáng lưu ý là các tư tưởng Nho giáo này đều qua quá trình sàng lọc lịch sử, vì vậy nó chỉ được chấp nhận khi phù hợp với đạo đức, luân lý của dân tộc Việt Nam đã có từ ngàn đời nay. Nho giáo coi gia đình là cơ sở của xã hội.
Nho giáo xác định “Thiên hạ chi bản tại quốc, quốc chi bản tại gia” (Mạnh Tử - Ly lâu thượng 5) (tức: gốc của thiên hạ là nước, gốc của nước là nhà). Nhà Nho Phan Bội Châu nêu ra: “Nước là cái nhà to, nhà là cái nước lớn” (Khổng học đăng) [140; 16]. Trong Tam cương, vua làm giường mối cho bầy tôi, cha làm giường mối cho con, chồng làm giường mối cho vợ, thì đã có hai điều nói về quan hệ gia đình. Trong Ngũ thường: 1- Quân quân thần thần, 2- Phụ phụ tử tử, 3- Huynh huynh đệ đệ, 4- Phu phu thê thê, 5- Bạn bè bằng hữu, thì cũng có 3 điều nói về mối quan hệ trong gia đình.
Tam cương liên kết với Ngũ thường, là năm đức: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Đây là những nội dung cơ bản của đạo đức Nho giáo. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Những vấn đề luân lý đạo đức này được nhà Nguyễn điển chế thành các quy định pháp luật và truyền bá đến tận làng, xã. Mỗi khi triều đình ban bố huấn điều - giáo điều thì lý trưởng, xã trưởng tập hợp nhân dân giảng giải cặn kẽ giáo điều để mọi người thấm nhuần, tuân thủ lễ giáo Nho giáo và xây dựng nên phong tục làng xã thuần hậu (Mỗi nhà nhân hậu thì cả nước dấy lên nhân hậu, mỗi nhà lễ nhượng thì cả nước dấy lên lễ nhượng).
Đây là những nguyên nhân đã khiến nhà làm luật dự liệu hình phạt cả trong những vấn đề liên hệ đến quyền lợi của tư nhân trong gia đình như các vấn đề giá thú, nghĩa dưỡng, thừa kế v., thiết tưởng chỉ cần nhấn mạnh rằng trạng thái ấy đã ghi nhận một sự đắc thắng của Nho giáo [456; 22]. Sự đắc thắng của Nho giáo càng có ý nghĩa hơn, nếu ta nhận định quan niệm pháp trị đã xâm lấn vào cả địa hạt luân lý, nghĩa là lãnh vực đáng lẽ phải dành riêng cho các giáo điều của nhân trị chủ nghĩa. Chính trong phạm vi của luân thường đạo lý, những sự xâm phạm vào các điều mà chủ nghĩa nhân trị coi là căn bản của gia đình hay cơ sở của nền tam cương ngũ thường cổ điển, lại được luật pháp coi là những tội đại ác. Do đó, các tội bất hiếu, bất mục, bất nghĩa, loạn luân được xếp ngang hàng với các trọng tội chính trị trong sự qui định tội thập ác, trong các bộ luật cổ của Trung Hoa cũng như của Việt Nam, từ bộ Hình luật nhà Lý, đến các bộ luật triều Lê, triều Nguyễn.
Theo Điều 2 Quốc triều Hình luật và Hoàng Việt luật lệ (cũng là Điều 2 luật nhà Đường và nhà Thanh), tội thập ác là: 1. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đại bất kính (ăn trộm đồ thờ trong lăng miếu, đồ ngự dụng, làm giả ấn ngự bảo, chế thuốc ngự không theo đúng phương, nấu ngự thiện (đồ ăn của vua) phạm vào những món ăn cấm, không giữ gìn thuyền ngự cho được chắc chắn, chỉ trích vua và đối với sứ giả nhà vua không giữ lễ của kẻ bầy tôi). Các tội thập ác được coi là những tội đại hung ác.
Vì vậy những sự khoan hồng được dự liệu trong luật đều không áp dụng cho các tội này; thí dụ các người ở trong trường hợp bát nghị phạm tội thập ác, không được hưởng sự ưu đãi mà luật đã dành cho họ; tội thập ác không thể được chuộc bằng tiền, dù phạm nhân đã già quá 70 tuổi hay còn trẻ dưới 15 tuổi hoặc phế tật. Theo giáo lý của Nho giáo thì “gia giáo” rất mực được đề cao, “phụ phụ tử tử, huynh huynh đệ đệ” (cha ra cha, con ra con, anh ra anh, em ra em). Trong mối quan hệ ấy thì “cha nhân từ, con có hiếu, anh rộng lượng, em kính trọng”. Hoàng Việt luật lệ nghiêm khắc đối với những hành vi vi phạm tôn ti, trật tự trong gia đình; Điều 76 Hoàng Việt luật lệ cấm “lập đích tử trái phép”, Điều 96 Hoàng Việt luật lệ xử phạt trường hợp “mất thứ bậc thê và thiếp” v.
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nho giáo chủ trương tuyệt đối phụ quyền gia trưởng nên pháp luật quy định cho người gia trưởng có uy quyền đối với mọi thành viên trong gia đình. Khi người vợ phạm phải các lỗi “thất xuất” thì người chồng được phép rẫy vợ. Điều 108 Hoàng Việt luật lệ quy định 7 trường hợp “thất xuất” là: vô tử, dâm dật, bất sự cậu cô, đa ngôn, đạo thiết, đố kỵ, ác tật. Trong khi đó người vợ bị trừng phạt nghiêm khắc nếu ruồng bỏ chồng.
Con cái trong gia đình phải hiếu kính với cha mẹ, dưới quyền của người gia trưởng, theo cổ luật nói chung và Hoàng Việt luật lệ nói riêng, con cái trong gia đình không được phép có tài sản riêng. Điều này bắt nguồn từ luân lý Nho giáo, trong sách Lễ ký đã viết: “Phụ mẫu tại bất cảm hữu kỳ thân, bất cảm tư kỳ tài”, nghĩa là khi cha mẹ còn sống thì con cái không dám có đến cả thân thể của mình, cũng như không được có tài sản riêng tư. Điều 82 Hoàng Việt luật lệ minh thị quy định: “Phàm không phải ông bà cha mẹ cho phép, mà con cháu lập riêng sổ hộ tịch, chia gia sản thì phải bị phạt 100 trượng”. Chính sách pháp luật trên cơ sở Nho giáo đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội thời bấy giờ.
Quan niệm thừa kế trong cổ luật có những khác biệt so với quan niệm thừa kế phương Tây hiện đại. Thừa kế trong bối cảnh phải giữ vững diện mạo của gia đình về lối sống luân lý, đạo đức. Bảo đảm được tôn ti, trật tự, củng cố được tình đoàn kết của gia đình, dòng tộc, đó mới là yếu tố cơ bản quan trọng. Vấn đề xây dựng nề nếp gia đình Nho giáo được nhà Nguyễn rất quan tâm.
Hàng năm, lý trưởng, xã trưởng phải lập danh sách những người trong làng, xã thọ 100 tuổi với đàn ông, 80 tuổi với đàn bà, những gia đình tứ, ngũ đại đồng đường, những người con hiếu thuận với ông bà, cha mẹ, những người con gái, những người vợ tiết hạnh để triều đình kịp thời cấp biển biểu dương, phong tặng làm gương cho mọi người noi theo, xây dựng nên mỹ tục ở làng xã [80; 20]. - Quan niệm của Nho giáo về vấn đề tài sản Chế định thừa kế gắn liền với yếu tố tài sản. Nếu yếu tố gia đình là điều kiện “cần” thì yếu tố tài sản là điều kiện “đủ” để phát sinh quan hệ thừa kế. Tuy nhiên dưới góc nhìn của Nho giáo, vấn đề tài sản trong cổ luật hầu như không được đề cập đến.
Vấn đề này có lý do của nó. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nho giáo có chủ đích rõ ràng trong việc xây dựng những quan hệ chặt chẽ trong gia đình và phát triển chúng thành những quan hệ chính trị - xã hội. Việc vun đắp tôn ti, tình cảm trong gia đình, từ đó phát triển lên trở thành những tình cảm và đức tính trọng đạo thờ vua, trị nước. Nho giáo khẳng định: Hiếu giả sở dĩ sự quân dã, để giả sở dĩ sự trưởng dã, từ giả sở dĩ sự chúng dã (Đại học, 9), nghĩa là Hiếu là để phụng sự nhà vua đấy, Để là để phụng sự bề trên đấy, Từ là để sai khiến dân chúng đấy.
Ngoài việc xây dựng một gia đình bền vững, một xã hội luân lý thì đây còn là nguyên nhân chính khiến các triều đại phong kiến (triều Lê, triều Nguyễn) chọn Nho giáo làm cơ sở của pháp luật và đạo đức. Vì vậy, các bộ cổ luật được soạn ra để phục vụ trước hết là chế độ quân chủ nên phạm vi các quan hệ về tài sản trong đời sống pháp luật dân sự thường hay bị mặc tĩnh. Quyền hưởng di sản trong cổ luật không phải hướng tới quyền lợi cá nhân như ta thấy qui định ở trong luật phương Tây mà hướng đến quyền lợi lâu dài và sự bền vững của cả dòng họ, vì theo quan niệm triết lý phương Đông, “thiên hạ vi công” dưới gầm trời này không có gì là tư cả [110; 24]. Với ảnh hưởng của Nho giáo, xã hội Việt Nam thời bấy giờ tin là có sự điều hòa tự nhiên giữa vạn vật; vạn vật và xã hội loài người có một sự giao hòa tương cảm tương ứng rất mật thiết.
Xã hội chỉ cần hoạt động theo đúng quy luật điều hòa của vạn vật là giữ được trật tự. Vì vậy, nhà làm luật khi đề cập đến vấn đề dân sự, tài sản chỉ cần quy định những điều gì liên quan đến sự điều hòa của vạn vật. Trong “di sản, thừa kế, thừa tự” chỉ cần không làm rối loạn các điều lễ - nghĩa, để trật tự đó trong vạn vật, trật tự xã hội khỏi bị tiêu tán. Vì vậy, nhà làm luật thường có thái độ mặc tĩnh đối với một số các quan hệ liên quan đến tài sản, thừa kế.
Hoàng Việt luật lệ không quy định các vấn đề về di sản, tài sản của vợ chồng mà được bổ sung bằng các Đạo, Dụ.