Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỪA KẾ THEO DI CHÚC TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ LÀO 1. Khái niệm, vai trò của pháp luật thừa kế theo di chúc 1.1 Khái niệm di chúc Hiện nay, với sự phát triển của nền kinh tế xã hội, việc tìm hiểu và nhận thức về di chúc có sự tiến bộ hơn so với những thời kỳ trước. Quy định của pháp luật dân sự Lào về khái niệm di chúc cũng giống quy định của một số nước trong khu vực và trên thế giới. Việc quy định thuật ngữ di chúc được diễn đạt theo nhiều cách khác nhau.
Có khái niệm nêu rõ “Di chúc là giấy tờ ghi ý muốn người chết viết lại”. Hay tại từ điển cho rằng “Di chúc là dặn lại trước khi chết những việc người sau cần làm và nên làm”. Mặc dù, có sự khác nhau trong cách diễn đạt nhưng nói chung các tác giả đều cho rằng di chúc là cách bày tỏ nguyện vọng của con người trước lúc chết. Pháp luật La Mã quy định khá chặt chẽ các điều kiện để một di chúc có hiệu lực như: người lập di chúc phải có khả năng lập di chúc (con gái từ 12 tuổi, con trai từ 14 tuổi trở lên, không bị tâm thần, không phạm trọng tội); hình thức di chúc phải phù hợp với quy định của pháp luật (di chúc viết phải được quan tòa, quan chấp chính chứng thực, di chúc miệng phải có bảy người làm chứng, người thừa kế phải được chỉ định rõ ràng, chính xác); người được chỉ định trong di chúc phải là người có khả năng trở thành người thừa kế (thai nhi sinh vào tháng thứ mười một, đàn ông từ 25 đến 60 tuổi, đàn bà từ 20 đến 50 tuổi mà không lập gia đình thì không được hưởng thừa kế…).
Một nguyên tắc quan trọng của luật La Mã và thừa kế là Semel heres, semper heres - người được chỉ định là người thừa kế sẽ vĩnh viễn là người thừa kế. Điều này có nghĩa là luật pháp chỉ công nhận di chúc có điều kiện phát sinh, không công nhận di chúc có điều kiện đình chỉ. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Một vấn đề mà trong hầu hết pháp luật dân sự của các nước có quy định được xuất phát từ luật La Mã là việc quy định những người được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc (hay còn gọi là kỷ phần bắt buộc). Ở thời kỳ đầu (thời kỳ Cộng hòa La Mã sơ khai) thì gia chủ chia tài sản như thế nào thì sẽ là như thế (Unti legassit super pecunia tutelave suae rei ita ius esto) nhưng dần dần về sau đối với những người ở hàng thừa kế thứ nhất nếu bị người lập di chúc truất quyền thừa kế thì sẽ được hưởng một kỷ phần bắt buộc [29, Tr.
Và theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam thì di chúc được quy định tại Điều 646 của Bộ luật dân sự năm 2005: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”. Theo đó, di chúc được hiểu là sự bày tỏ ý chí của một người khi còn sống định đoạt tài sản của mình, để chuyển toàn bộ hoặc một phần tài sản của người đó cho một hay nhiều người thừa kế sau khi người đó chết. Sự bày tỏ ý chí này được thể hiện, hoặc giấy tờ, hoặc bằng lời nói miệng, thường là lời dặn dò, lời trăn trối khi hấp hối. Hành vi bày tỏ ý chí này bằng giấy tờ, hoặc lời nói miệng gọi là lập di chúc.
Việc chuyển tài sản của người quá cố cho người khác sau khi người đó chết căn cứ theo di chúc của người đó lập ra khi còn sống gọi là thừa kế theo di chúc. Người được hưởng di sản hoặc một phần di sản của người chết để lại căn cứ theo di chúc của người quá cố đó là người thừa kế theo di chúc chết. Di chúc chỉ được thực hiện sau khi người lập di chúc chết và điều này có ý nghĩa pháp lý và ý nghĩa thực tiễn khi: - Người lập di chúc không bị ràng buộc bởi di chúc đã lập ra, người đó có thể sửa đổi di chúc hoặc hủy bỏ di chúc đã lập bằng một di chúc khác lập ra sau này, hoặc tuyên bố không lập di chúc nữa. - Không có sự ràng buộc giữa người lập di chúc và người được chỉ định là người thừa kế theo di chúc, trong thời gian người lập di chúc còn sống.
6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Sau khi người lập di chúc chết, người được chỉ định là người thừa kế theo di chúc mới có quyền bày tỏ ý chí của mình nhận hay không nhận tài sản của người lập di chúc để lại. Đây là hành vi pháp lý đơn phương của người thừa kế nhận di sản theo di chúc. Như vậy, có thể khái quát di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân (bằng di chúc và di chúc có thể bằng miệng hoặc bằng văn bản), người có tài sản riêng của mình để chuyển các tài sản đó cho người khác (là tổ chức, cá nhân là người thân thuộc, anh em, con cái, cha mẹ. và cũng có thể là người quen biết, không phải trong các hàng thừa kế) sau khi chết.
Khái niệm thừa kế theo di chúc Ngay từ thời kỳ đầu đấu tranh bảo vệ và xây dựng đất nước, Đảng và Nhà nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào đã có quan điểm rõ ràng và đúng đắn về đường lối cách mạng của mình: “Nhà nước của dân, do dân, vì dân”. Từ xuất phát điểm đó dẫn đến trong quan hệ thừa kế công dân có quyền để lại thừa kế những tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho người khác. Nhà nước không hạn chế quyền để lại thừa kế và quyền nhận thừa kế của cá nhân. Mặt khác, Nhà nước khuyến khích công dân bằng sức lao động của mình tạo ra nhiều của cải cho xã hội, làm giàu cho gia đình, làm cho đất nước văn minh, phồn vinh.
Thừa kế theo di chúc là một cách thể hiện rõ nhất quyền tự định đoạt của người có tài sản, đồng thời cho thấy pháp luật dân sự Lào luôn tôn trọng quyền tự do thể hiện ý chí của công dân. Thừa kế theo di chúc là việc chuyển di sản thừa kế (tài sản, quyền tài sản) của người đã chết cho người còn sống theo sự định đoạt của người đó khi còn sống. Thừa kế theo di chúc là một chế định quan trọng của pháp luật dân sự về thừa kế, là một cách thức giúp người chết để lại di sản của mình cho những người gần gũi, có quan hệ gắn bó theo ý muốn của người đó và sự định đoạt này được pháp luật về thừa kế bảo vệ bằng những quy định cụ 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thể nhằm tạo mọi điều kiện tối ưu nhất cho việc thực hiện ý nguyện sau cùng của người để lại tài sản. Theo Bộ luật dân sự năm 1990 nói chung và Luật thừa kế 2008 của Lào nói riêng, quy định thừa kế theo di chúc: “Là được thừa kế những tài sản theo di chúc của người đã chết”.
Như vậy, khi một người chết để lại di sản bằng di chúc và có hiệu lực pháp luật cho những người được hưởng thừa kế theo di chúc là các cá nhân, tổ chức được thừa kế những tài sản theo di chúc đó của người đã chết. Điều thể hiện ý nghĩa của di chúc trước tiên là thông qua di chúc người có tài sản bày tỏ được mong muốn, nguyện vọng của mình về cách giải quyết tài sản của họ sau khi chết. Hơn nữa, ai cũng hiểu được rằng thế giới vật chất là vô cùng, vô tận nhưng cuộc đời con người thì có giới hạn. Vì vậy, trước khi đến cõi vĩnh hằng họ phải phân định làm sao thoả mãn nhất những gì thuộc về họ cho người còn sống.
Lập di chúc là cách tốt nhất để người đó thể hiện ý chí của chính họ trong việc định đoạt khối tài sản của chính mình, mà đôi lúc nó không chỉ đơn thuần mang giá trị về kinh tế có thể nó là tâm huyết, là tình yêu, là kỉ niệm…Vì vậy, việc tự do thể hiện ý chí trong di chúc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Tất nhiên, vẫn là tự do trong khuôn khổ của pháp luật. Một lợi thế nữa cho người có tài sản lập di chúc là họ không bị ràng buộc bởi di chúc đã được lập họ có thể thay đổi, bổ sung hoặc thay thế bằng một bản di chúc khác và chỉ bản di chúc thể hiện ý chí cuối cùng của người có tài sản mới được công nhận là di chúc hợp pháp. Có thể nói, di chúc là phương tiện chuyển tài sản vì sau thời điểm mở thừa kế di chúc có giá trị pháp lý, đồng nghĩa với việc tài sản của họ (lúc này được gọi là di sản) chuyển sang người hưởng thừa kế theo nội dung của di chúc được người có tài sản lập trước đó.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Vai trò của pháp luật thừa kế theo di chúc Nhà nước nhân dân cách mạng Lào có nền kinh tế chủ yếu là tự cung tự cấp. Cấu trúc lực lượng lao động thì: 80% dân số làm ở lĩnh vực nông nghiệp; 20% dân số làm ở lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ [8, Tr. Cũng là nước mà có số lượng theo đạo Phật đông nhất trong khu vực Đông Nam Á.
Nhưng không phải vì thế mà pháp luật không có vai trò lớn trong việc định hướng đất nước Lào phát triển một cách đúng đắn. Do những đặc điểm về kinh tế cũng như văn hóa mà vấn đề pháp luật thừa kế nói chung và thừa kế theo di chúc nói riêng của Lào cũng mang tính phức tạp. Bởi vậy, pháp luật thừa kế có một tầm quan trọng đặc biệt trong việc bảo vệ quyền sở hữu của người chết, người được thừa kế, bảo vệ tôn ti trật tự trong nội bộ gia đình, dòng tộc cũng như giúp giữ gìn nền văn hóa truyền thống của cha ông cha xưa. Do đó, pháp luật thừa kế của Lào có vai trò rất quan trọng, cụ thể: - Pháp luật thừa kế là sự thể chế hóa đƣờng lối, chủ trƣơng của đảng nhân dân cách mạng Lào và của Nhà nƣớc Lào về quyền cơ bản của con ngƣời trong lĩnh vực dân sự Đảng nhân dân cách mạng Lào là lực lượng lãnh đạo toàn xã hội.
Sự lãnh đạo của Đảng thể hiện ở dưới nhiều góc độ, phương diện khác nhau, trong đó có hoạt động xây dựng chủ trương, đường lối chính sách.