Chương 1 KHÁI NIỆM THỪA KẾ THEO DI CHÖC, ĐẶC ĐIỂM VÀ ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA DI CHÖC 1. KHÁI NIỆM THỪA KẾ, QUYỀN THỪA KẾ VÀ THỪA KẾ THEO DI CHÖC 1. Khái niệm thừa kế Thừa kế là việc chuyển dịch tài sản và quyền sở hữu tài sản của cá nhân người đã chết cho cá nhân, tổ chức có quyền hưởng thừa kế. Người thừa kế trở thành chủ sở hữu của tài sản được hưởng theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Thừa kế là một quan hệ xã hội có mầm mống và xuất hiện từ thời sơ khai của xã hội loài người. Trong thời kì đầu của chế độ cộng sản nguyên thủy những điều kiện về kinh tế - xã hội - hôn nhân phụ thuộc vào địa vị chủ đạo của người phụ nữ trong thị tộc. Chế độ mẫu hệ với địa vị chủ đạo của người phụ nữ đã tạo tiền đề cho việc thừa kế tài sản của các con và những người thân thuộc của người mẹ. Ăngghen khi nghiên cứu về thừa kế đã viết: Theo chế độ mẫu quyền, nghĩa là chừng nào mà huyết tộc chỉ kể về bên mẹ và theo tập tục thừa kế nguyên thủy trong thị tộc mới được thừa kế những người trong thị tộc chết.
Tài sản phải để lại trong thị tộc, vì tài sản không có giá trị lớn, nếu lâu nay trong thực tiễn người ta vẫn trao tài sản đó cho những bà con thân thích nhất, nghĩa là trao cho những người cùng huyết tộc với người mẹ [1, tr. Như vậy, sự kế thừa tài sản trong thị tộc, bộ lạc theo chế độ mẫu hệ đã đặt nền móng ban đầu cho sự hình thành và phản ánh tính tất yếu của việc thừa kế tài sản theo huyết tộc. Đây chính là hình thức thừa kế đầu tiên của xã hội loài người về tư liệu sản xuất nhằm tiếp tục duy trì cuộc sống chung cho thị tộc. Cùng với tiến trình phát triển của xã hội và sự phân công lao động trong gia đình, người đàn ông đã tạo ra nhiều của cải nuôi sống các thành viên 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong thị tộc, bộ lạc đã làm thay đổi quan hệ xã hội, thiết lập địa vị của người đàn ông trong gia đình và trong từng thị tộc.
Đến lúc này thì chế độ mẫu hệ đã bị thay thế bằng chế độ phụ hệ; và bắt đầu từ đây các con trong gia đình có quan hệ huyết thống với người cha sẽ mang họ cha và được thừa kế tài sản của cha: "Thế là huyết thống theo họ mẹ và quyền thừa kế theo họ mẹ đã bị xóa bỏ, huyết tộc theo họ cha và thừa kế cha được xác lập" [1, tr. Có thể thấy thời kì nhà nước chưa xuất hiện và pháp luật chưa ra đời - thời kì đầu của xã hội loài người - thì quan hệ sở hữu và thừa kế xuất hiện như một yếu tố khách quan và thuộc về phạm trù kinh tế. Bấy giờ, sở hữu và thừa kế có mối quan hệ mật thiết với nhau, được thể hiện ở chỗ: Sở hữu là yếu tố tiền đề để thừa kế phát sinh thì thừa kế lại là phương tiện để duy trì, củng cố và phát triển sở hữu tài sản. Vậy thừa kế xuất hiện phụ thuộc vào chế độ sở hữu.
Khi chế độ nguyên thủy tan rã, xã hội phân chia giai cấp và chế độ tư hữu được hình thành. Việc kế thừa tài sản là sự chuyển dịch công cụ, phương tiện bóc lột của giai cấp thống trị cho con cháu nhằm tiếp tục xác lập quyền lực chính trị, kinh tế với những người lao động thông qua pháp luật và bộ máy cưỡng chế của nhà nước. Như vậy, Nhà nước và pháp luật của chế độ tư hữu xuất hiện thì quan hệ sở hữu và thừa kế trở thành những phạm trù pháp luật, được pháp luật điều chỉnh. Bằng việc ban hành các văn bản pháp luật, nhà nước quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ thừa kế, quy định trình tự và điều kiện dịch chuyển tài sản, cũng như phương thức dịch chuyển tài sản từ người chết sang cho người còn sống.
Vậy thừa kế là một quan hệ xã hội, là việc chuyển dịch tài sản của người đã chết cho người còn sống theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật. Thừa kế xuất hiện đồng thời với quan hệ sở hữu và sự phát triển của xã hội loài người. Qua mỗi thời kì quan hệ thừa kế có tính kế thừa các giá trị vật chất và tình thân của gia đình và dòng tộc. Ở Việt Nam, thừa kế di sản được hình thành theo tập quán của từng dân tộc, vùng miền.
Con cháu trong gia đình được hưởng di sản từ ông bà, 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cha mẹ và thực hiện nghĩa vụ thờ cúng tổ tiên. Song thừa kế vẫn là quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh cụ thể trong luật dân sự Việt Nam 2005, cùng các văn bản pháp luật liên quan và những quy phạm pháp luật thừa kế luôn được quy định phù hợp với truyền thống văn hóa của dân tộc ta. Khái niệm quyền thừa kế Nếu chế định thừa kế điều chỉnh quan hệ xã hội trong lĩnh vực thừa kế, thì quyền thừa kế là chế định pháp luật bảo hộ quyền của cá nhân đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của họ trong việc dịch chuyển tài sản để lại sau khi họ chết cho những người còn sống có quyền hưởng thừa kế theo các hình thức: theo di chúc hoặc theo pháp luật. Chế định quyền thừa kế không chỉ điều chỉnh phạm vi quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong việc để lại di sản và nhận di sản thừa kế, mà còn là phương thức bảo vệ quyền của những người thừa kế hợp pháp khi bị xâm phạm.
Quyền thừa kế được hiểu là một bộ phận của chế định thừa kế, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước đặt ra nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình dịch chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống. Đó là sự ghi nhận và xác định về quyền và nghĩa vụ của chủ thể trong quan hệ thừa kế là người thừa kế và người để lại di sản. Quyền thừa kế của công dân do pháp luật quy định và chỉ được thực hiện khi có sự kiện chết của cá nhân có di sản thừa kế. Những người thừa kế có quyền hưởng theo di chúc hoặc theo pháp luật thể hiện ý chí nhận di sản.
- Quyền thừa kế của cá nhân được quy định tại Điều 631 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: "Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình, để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật, hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật" [23]. Theo quy định này pháp luật tôn trọng quyền tự định đoạt của cá nhân với tư cách là chủ sở hữu tài sản. Vậy trước khi chết cá nhân có quyền định đoạt tài sản của mình cho ai theo ý chí của họ thể hiện trong di chúc đã lập. Nếu vì lí do nào đó, cá nhân không lập được di 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chúc thì di sản của cá nhân đó được dịch chuyển cho những người có quan hệ huyết thống, thân thích, nuôi dưỡng của họ theo quy định của pháp luật.
- Cùng với quyền để lại di sản là quyền hưởng di sản thừa kế của một cá nhân thông qua di chúc. Việc hưởng di sản cũng là một quyền năng được pháp luật quy định cho bất kì một cá nhân nào, không phân biệt giới tính, già trẻ, có năng lực hành vi dân sự hay không có năng lực hành vi dân sự. Trừ trường hợp họ từ bỏ quyền năng đó, hoặc là người không có quyền hưởng di sản, hoặc đối với một số tài sản có hạn chế người hưởng di sản như di sản là quyền sử dụng đất, hoặc nhà ở, nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất. Quyền thừa kế còn được hiểu là một quan hệ pháp luật là quan hệ về tài sản.
Quan hệ thừa kế là quan hệ giữa những người có quyền hưởng di sản và những người khác không có quyền hưởng di sản. Quan hệ thừa kế là một quan hệ pháp luật dân sự, là quan hệ vật quyền. Như vậy, quyền thừa kế bao gồm hai yếu tố: quyền để lại di sản và quyền hưởng di sản thừa kế. Từ đó phản ánh quá trình dịch chuyền tài sản từ người đã chết sang người còn sống.
Việc dịch chuyển đó có thể thông qua ý chí của người đề lại di sản (người chết) đã thể hiện trong di chúc (thừa kế theo di chúc); hoặc việc dịch chuyển đó căn cứ theo hàng thừa kế, điều kiện, trình tự thừa kế do pháp luật quy định thì sẽ được gọi là thừa kế theo pháp luật. Khái niệm thừa kế theo di chúc Theo quy định của pháp luật, thì chủ sở hữu tài sản khi còn sống có quyền định đoạt tài sản của mình theo ý chí. Một trong những hình thức định đoạt tài sản của chủ sở hữu tài sản là lập di chúc để định đoạt tài sản của mình cho những người thừa kế được chỉ định trong di chúc [23, Điều 648]. Vì vậy, khi còn sống cá nhân có quyền lập di chúc định đoạt tài sản của mình nhằm chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản cho người thừa kế theo di chúc, sau khi người lập di chúc chết.
Tuy nhiên, quyền tự định đoạt của cá nhân lập di chúc không phải bao giờ cũng được bảo đảm thực hiện tuyệt đối. Di chúc là 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com một giao dịch dân sự, cho nên di chúc phải tuân theo những điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sư. Hơn nữa, pháp luật còn có quy định nhằm hạn chế quyền định đoạt của người lập di chúc teo quy định tại Điều 669 Bộ luật Dân sự, nhằm bảo vệ quyền của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc gồm: Bố, mẹ, vợ, chồng, các con vị thành niên của người để lại di sản theo di chúc và các con của người này tuy đã trưởng thành nhưng không có khả năng lao động, thì mỗi người vẫn được hưởng phần tối thiểu bằng 2/3 suất thừa kế chia theo pháp luật, nếu người lập di chúc truất quyền của họ hoặc cho họ hưởng phần di sản nhỏ hơn 2/3 của một suất thừa kế chia theo pháp luật [23, Điều 669]. Điều 646 Bộ luật Dân sự quy định: "Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết" [23].