Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỪA KẾ 1. Khái niệm thừa kế và quyền thừa kế. Thừa kế và quyền thừa kế Điều 58 Hiến pháp 1992 của Việt Nam quy định "Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân" [19]. Quyền sở hữu, quyền thừa kế của mỗi cá nhân, mỗi con người cụ thể được nhà nước bảo hộ về mặt pháp lý.
Hiến pháp 1992 là văn bản có giá trị cao nhất của nhà nước Việt Nam, từ những quy định trong Hiến pháp mà quyền thừa kế được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật liên quan. Trước khi tìm hiểu khái niệm quyền thừa kế chúng ta cần phải tìm hiểu khái niệm thừa kế. Vậy thừa kế là gì? Theo Từ điển tiếng Việt: "Thừa kế là hưởng của người khác để lại cho" [54]. Theo Giáo trình Luật dân sự - Trường Đại học Luật Hà Nội, thừa kế được hiểu là: "Việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho những người còn sống" [56].
Quan hệ sở hữu và quan hệ thừa kế là hai bộ phận không thể tách rời nhau, nó thường đi liền với nhau trong các quan hệ xã hội, quan hệ thừa kế phụ thuộc vào quan hệ sở hữu, có quan hệ sở hữu thì sẽ có quan hệ thừa kế, và ngược lại có quan hệ thừa kế thì sẽ xuất hiện chế độ sở hữu. Như vậy, thừa kế luôn gắn với quan hệ sở hữu xuất hiện đồng thời với quan hệ sở hữu và sự phát triển của xã hội loài người. Trong thời kỳ Công xã nguyên thủy, đã xuất hiện việc dịch chuyển tài sản của những người đã chết cho những người còn sống có quan hệ huyết thống. Đây là giai đoạn chưa xuất hiện nhà nước nên pháp luật chưa xuất hiện, đến cuối thời kỳ Công xã nguyên thủy mầm mống của nhà nước xuất hiện và đến khi nhà nước xuất hiện thì pháp luật ra đời.
Tuy nhiên, pháp luật thời kỳ này chưa điều chỉnh hết các quan hệ xã hội, đối 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com với các quan hệ về sở hữu và thừa kế thì mỗi một nhà nước thường hướng sự điều chỉnh của các quy phạm phạm luật theo hướng bảo vệ quyền lợi tuyệt đối của giai cấp thống trị và quyền thừa kế được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật của mỗi nhà nước. Điều 674 BLDS năm 2005 quy định: «Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định». Với những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo các hàng thừa kế mà pháp luật đã quy định và thừa kế theo pháp luật chỉ đặt ra trong trường hợp người để lại di sản không định đoạt tài sản của mình bằng di chúc, di chúc không hợp pháp hoặc những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế; Cũng theo quy định của BLDS hiện hành thì thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản không được định đoạt trong di chúc; phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật; phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối quyền nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn vào thời điểm mở thừa kế. Quyền thừa kế được xem xét rất nhiều góc độ.
Với tính chất là một chế định pháp luật dân sự, quyền thừa kế bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật do nhà nước đặt ra nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình dịch chuyển tài sản từ người chết sang cho người khác còn sống theo di chúc hoặc theo một trình tự nhất định do pháp luật quy định. Đồng thời, quy định quyền và nghĩa vụ cũng như các phương thức bảo vệ các quyền và nghĩa vụ đó của những chủ thể trong quan hệ thừa kế. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Điều 631 BLDS năm 2005 quy định về quyền thừa kế của cá nhân như sau: Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật[6]. Như vậy, quyền thừa kế được hiểu là một chế định pháp luật dân sự bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành quy định về thừa kế, về việc bảo vệ và dịch chuyển tài sản của người đã chết cho những người còn sống.
Di sản thừa kế Thừa kế và sở hữu là hai phạm trù kinh tế cùng tồn tại song song trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định, chúng có mối liên hệ biện chứng với nhau, chỉ đạo, chi phối lẫn nhau, cùng phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người. Vì vậy, quyền sở hữu luôn gắn liền với mỗi con người, được nhà nước bảo hộ về mặt pháp lý, cá nhân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu tiêu dùng…Khi người đó còn sống họ có quyền mang những tài sản thuộc sở hữu của mình ra sử dụng cho các mục đích của mình nghĩa là đưa những tài sản mình có ra lưu thông dân sự, kinh doanh thu lợi nhuận hay phục vụ cho nhu cầu cuộc sống hoặc họ có thể lập di chúc để định đoạt những tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của họ, để lại tài sản đó cho người khác, cũng có những trường hợp người có tài sản không định đoạt khối tài sản của mình bằng việc lập di chúc do đó khi họ chết đi khối tài sản mà họ có sẽ được chia cho những người thừa kế thuộc diện và hàng thừa kế của họ theo quy định của pháp luật dân sự. Khi một người chết đi toàn bộ khối tài sản thuộc sở hữu của người đó sẽ được gọi là di sản thừa kế. Điều 634 BLDS 2005 quy định: Di sản thừa kế bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác[6].
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Với quy định này của BLDS 2005 tuy ngắn gọn nhưng đã đầy đủ và rất chính xác. Bộ luật dân sự 2005 cũng đã có quy định cụ thể thế nào là tài sản. Tại Điều 163 BLDS 2005 quy định:"Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản" [6]. Theo đó, những tài sản thuộc quyền sở hữu của một người, kể cả các quyền tài sản sau khi chết sẽ trở thành di sản thừa kế.
Những tài sản mà người đó để lại có thể là những tài sản vật chất hữu hình có thể nhìn thấy được, cầm nắm được như tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt, tiền, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, nhà cửa… hay là những quyền tài sản của người đó. Theo quy định tại Điều 181 BLDS năm 2005 thì quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ. Vậy, các quyền về tài sản đó là quyền đòi tài sản đã cho mượn, cho thuê, quyền chuộc lại tài sản đã cầm cố, quyền đối với tài sản đã thế chấp, đã bồi thường thiệt hại về tài sản, hưởng những quyền tác giả hoặc quyền chủ sở hữu văn bằng, sáng chế, giải pháp hữu ích. Tuy nhiên, quyền tài sản gắn với nhân thân của người chết như tiền cấp dưỡng, tiền lương hưu không được coi là di sản thừa kế.
Những tài sản của người chết để lại có thể là những tài sản riêng của người chết, có thể là phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác. Tài sản riêng của người chết là tài sản do người đó tạo lập ra bằng thu nhập hợp pháp như: Tiền lương, tiền công, tiền thưởng, tiền nhuận bút, tiền trúng thưởng xổ số. Thu nhập hợp pháp, của cải để dành, tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, không hạn chế về số lượng và giá trị. Đối với tài sản riêng của vợ hoặc chồng được xác định căn cứ vào các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.
Theo đó, tài sản riêng của vợ hoặc chồng bao gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn, tài sản được 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại Khoản 1 Điều 29 và Điều 30 Luật HNGĐ năm 2000 đó là những trường hợp mà Luật HNGĐ năm 2000 cho phép vợ chồng chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân như chia tài sản chung để kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng; đồ dùng, tư trang cá nhân mà người đó không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên, với sự phát triển của đời sống xã hội, quan hệ sở hữu, hình thức sở hữu ngày càng phong phú muôn màu, muôn vẻ. Một cá nhân không những có tài sản thuộc sở hữu riêng mà có thể còn có những phần tài sản thuộc sở hữu chung với người khác. Phần tài sản thuộc sở hữu chung này có thể là phần tài sản nằm trong khối tài sản chung hợp nhất giữa vợ và chồng hay phần tài sản thuộc sở hữu chung theo phần của người chết do góp vốn làm ăn với người khác.
Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 quy định: "Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung" [24]. Những tài sản do vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng, mỗi người đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung này. Ông cha ta thường có câu “của chồng, công vợ” do đó rất khó để xác định công sức đóng góp của mỗi người trong việc tạo lập khối tài sản chung của vợ chồng nên khi một bên chết trước về nguyên tắc được chia đôi, phần của người chết được xác định là di sản thừa kế.