mở đầu cho toàn bộ hoạt động xét xử của Toà án. Bởi vậy, Bộ luật tố tụng hình sự đã giành một phần lớn, gồm 7 chương (từ chương XV đến chương XXI - từ Điều 145 đến Điều 203) và Điều 61 để quy định về thủ tục xét xử sơ thẩm. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Với ý nghĩa là cuộc điều tra công khai, tại phiên toà sơ thẩm, mọi tài liệu chứng cứ của vụ án do Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát thu thập được đều được đưa ra xem xét một cách công khai; những người tiến hành tố tụng được nghe trực tiếp lời khai, lời trình bày của người tham gia tố tụng; những người tham gia tố tụng được nghe trực tiếp lời khai, lời trình bày của nhau, họ được đối chất, tranh luận và chất vấn một cách công khai về những vấn đề mà tại cơ quan điều tra họ chưa có điều kiện thực hiện. Tại phiên toà, quyền và nghĩa vụ của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng được thực hiện một cách công khai, đầy đủ; bị cáo, người bị hại.
đều bình đẳng với nhau, thậm chí còn bình đẳng cả với đại diện viện kiểm sát trong việc xuất trình chứng cứ, tranh luận và đưa ra yêu cầu. Do đó, có thể nói xét xử sơ thẩm được coi như là đỉnh cao của quyền tư pháp, đỉnh cao của tính dân chủ trong hoạt động tư pháp. Như đã nói, xét xử sơ thẩm là bước xét xử lần một của nguyên tắc hai cấp xét xử, nhưng trong thực tế thì không phải vụ án hình sự nào cũng trải qua hai cấp xét xử. Việc xét xử tiếp một vụ án ở cấp phúc thẩm chỉ được thực hiện khi bản án của cấp sơ thẩm bị kháng cáo hoặc bị kháng nghị.
Bởi vậy, nếu việc xét xử sơ thẩm là chính xác, khách quan và toàn diện, tuân thủ những quy định của pháp luật nói chung và luật tố tụng hình sự nói riêng thì tỷ lệ kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm sẽ giảm xuống, phần lớn các vụ án hình sự sẽ được giải quyết xong ngay khi đã được xét xử sơ thẩm. Như vậy, sẽ hạn chế được lượng án mà các toà án cấp trên phải giải quyết, tiết kiệm được về thời gian cũng như tiền bạc cho việc giải quyết một vụ án hình sự, hiệu quả hoạt động của toà án cũng như của bộ máy Nhà nước được nâng cao. Ngoài ra, xét xử sơ thẩm còn có vai trò rất lớn trong việc giáo dục ý thức pháp luật và phòng ngừa tội phạm. Phiên toà xét xử sơ thẩm thường có đầy đủ những người tham gia tố tụng và có nhiều người khác tham dự.
Nên, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 với phiên toà công khai có văn hoá pháp luật cao, với bản án công bằng, thì sẽ có tác dụng rất lớn trong việc giáo dục công dân ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng quy tắc đời sống xã hội, bảo vệ pháp chế. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CÁC QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC XÉT XỬ SƠ THẨM TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Các nguyên tắc, yêu cầu của các quy định về thủ tục xét xử sơ thẩm Trong hệ thống các quy phạm tố tụng hình sự, nguyên tắc tố tụng hình sự chiếm một vị trí quan trọng. Nó là những quy định pháp luật cơ bản, chung nhất, mang tính chỉ đạo được ghi nhận trong Hiến pháp (nguyên tắc Hiến định), trong Bộ luật tố tụng hình sự (nguyên tắc luật định) và các văn bản khác, xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng.
Các nguyên tắc tố tụng hình sự thể hiện bản chất của tố tụng hình sự, là cơ sở cho mọi hoạt động và hành vi tố tụng hình sự. Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam đã thể hiện khá đầy đủ các nguyên tắc tiến bộ, dựa trên nền tảng chung là dân chủ và pháp chế XHCN. Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, các quy định về thủ tục xét xử sơ thẩm đều được xây dựng trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự. Qua nghiên cứu thủ tục xét xử sơ thẩm, chúng tôi thấy những nguyên tắc, yêu cầu cơ bản đó là: Nguyên tắc pháp chế Nguyên tắc này được quy định tại Điều 2 Bộ luật tố tụng hình sự: “ Mọi hoạt động tố tụng hình sự phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật này” TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 Trong tố tụng hình sự, không chỉ ở giai đoạn xét xử sơ thẩm, mà trong tất cả các giai đoạn tố tụng, nguyên tắc này đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng phải triệt để tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự khi thực hiện các hoạt động, các hành vi tố tụng.
Thực tiễn cho thấy hầu hết các vụ án bị xử oan sai là do trong quá trình xét xử vụ án, nguyên tắc này đã không được tuân thủ một cách triệt để. Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân là một nguyên tắc và yêu cầu cơ bản, có tính chất xuyên suốt của thủ tục tố tụng hình sự Việt Nam. Nguyên tắc này được quy định tại Điều 3 Bộ luật tố tụng hình sự là: Khi tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng, phải tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, phải thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời huỷ bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó, nếu thấy có vi phạm pháp luật hoặc không cần thiết nữa. Nội dung nguyên tắc này nhấn mạnh đến trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng, mà ở trong giai đoạn xét xử sơ thẩm chính là trách nhiệm của thẩm phán và hội thẩm nhân dân, vì những người này khi thực hiện hành vi tố tụng sẽ tác động trực tiếp đến các quyền cơ bản của công dân.
Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, tính hợp pháp và cần thiết của những biện pháp đã được áp dụng nhất là đối với biện pháp tạm giam, phải được thường xuyên kiểm tra, nếu thấy không còn cần thiết nữa thì phải huỷ bỏ hoặc thay đổi. Việc thay đổi hoặc huỷ bỏ các biện pháp đã áp dụng phải xuất phát từ ý thức tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật Đây là nguyên tắc Hiến định, được quy định tại Điều 52 Hiến pháp năm 1992. Nguyên tắc này được thể hiện trong tố tụng hình sự nói chung và trong giai đoạn xét xử sơ thẩm nói riêng như sau: - Mọi người, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội nếu phạm tội thì đều bị xử lý theo pháp luật.
- Mọi người, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội nếu là người tiến hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng thì đều có quyền và nghĩa vụ như nhau. Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án Theo quy định tại Điều 20 Bộ luật tố tụng hình sự, nội dung của quyền bình đẳng trước Toà án là Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, yêu cầu và tranh luận trước Toà án. Hiện nay, do nhận thức chưa đầy đủ về quyền này nên ở một số phiên toà đã xảy ra tình trạng Hội đồng xét xử, không tôn trọng việc bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng đưa ra các chứng cứ, yêu cầu; tình trạng thiếu sự tôn trọng lẫn nhau, gây mất trật tự tại phiên toà. Nguyên tắc bảo đảm việc tham gia tố tụng hình sự của các tổ chức xã hội và công dân.
Theo quy định tại Điều 5 Bộ luật tố tụng hình sự thì Mặt trận Tổ quốc, Công đoàn, Hội nông dân, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ, các tổ chức xã hội khác và công dân có quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, góp phần đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức xã hội và công dân tham gia tố tụng hình sự. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, nguyên tắc này được thể hiện ở các nội dung như: - Đối với những vụ án mà bị cáo bị đưa ra xét xử là người chưa thành niên thì thành phần Hội đồng xét xử phải có một Hội thẩn nhân dân là giáo viên hoặc là cán bộ Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh; đại diện của nhà trường hoặc tổ chức xã hội, cha mẹ hoặc người thân của bị cáo phải được triệu tập đến tham gia phiên toà để phát biểu ý kiến về những vấn đề có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. - Khi phát hiện có những vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các tổ chức xã hội và công dân có quyền kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền và các cơ quan này phải xem xét, giải quyết và trả lời cho các tổ chức xã hội và công dân đã kiến nghị biết.
Nguyên tắc không ai có thể bị coi là có tội, nếu chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Toà án. Nguyên tắc này được quy định tại Điều 10 Bộ luật tố tụng hình sự với nội dung: Không ai có thể bị coi là có tội và phải chịu hình phạt, khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.