đặt vấn đề điều tra, xác minh lại. Trong giai đoạn này, sở dĩ có các quy định trên là do đòi hỏi từ thực tiễn có nhiều đơn khiếu nại về các bản án chung thẩm có oan, sai chứ không phải xuất phát 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com từ quá trình nghiên cứu lý luận và tham khảo kinh nghiệm nước ngoài. Chính vì vậy, đã không có một thủ tục cụ thể để giải quyết vấn đề này. Sau đó, các quy định về xử lại những vụ án do Tòa án nhân dân (TAND) cấp dưới đã xử mà bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng Chánh án Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSND) kháng nghị được quy định cụ thể hơn trong Luật Tổ chức TAND năm 1960 và Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức của TANDTC và tổ chức của các TAND địa phương năm 1961.
Theo các quy định này, việc xử lại thuộc thẩm quyền của TANDYC nhưng nếu thấy cần thiết, TANDTC có thể giao cho TAND cấp tỉnh thực hiện thẩm quyền xử lại đối với những vụ án mà Tòa án cấp này hoặc cấp dưới đã xử mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng đây chỉ là việc xử lại vụ án bị kháng nghị bởi Tòa án có thẩm quyền (có thể là Tòa án cấp trên hoặc chính Tòa án đã ra bản án, quyết định bị kháng nghị nếu được Tòa án cấp trên giao). Quy định này khác với thủ tục giám đốc thẩm hoặc phá án hiện nay là sau khi có kháng cáo hoặc kháng nghị giám đốc thẩm, Tòa án giám đốc thẩm sẽ xem xét kháng cáo, kháng nghị đó và nếu có căn cứ thì hủy án và giao cho Tòa án đã ra bản án đó xét xử lại. Thủ tục để xem xét kháng cáo, kháng nghị mới là thủ tục giám đốc thẩm chứ không phải là thủ tục xét lại vụ án như quy định của giai đoạn này.
Thuật ngữ "giám đốc thẩm" lần đầu tiên xuất hiện trong một văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam lại không phải là văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành về tố tụng dân sự, đó là Luật Tổ chức TAND năm 1981 (khoản 3 Điều 21, khoản 3 Điều 31) trong các quy định về thẩm quyền của Tòa án chứ không phải dưới góc độ một thủ tục tố tụng. Chỉ đến khi Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (PLTTGQCVADS) năm 1989 có hiệu lực thi hành với chế định thủ tục giám đốc thẩm tại Chương XII, lần đầu tiên hoạt động giám đốc thẩm mới có được cơ sở pháp lý rõ ràng, tương đối cụ thể. Theo các quy định này, nếu phát hiện thấy bản án, quyết định đã có 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hiệu lực pháp luật của Tòa án có sai lầm, những người có thẩm quyền (Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSNDTC, Chánh án, Phó Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSND cấp tỉnh và Chánh án TAND cấp tỉnh) sẽ kháng nghị bản án, quyết định đó. Trên cơ sở kháng nghị, Tòa án giám đốc thẩm sẽ xem xét lại vụ án và ra một trong những quyết định: bác kháng nghị, sửa bản án, quyết định bị kháng nghị hoặc hủy bản án quyết định bị kháng nghị và giao cho Tòa án cấp dưới xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm hoặc phúc thẩm.
Như vậy, trong giai đoạn này, giám đốc thẩm được hiểu là việc Tòa án cấp giám đốc thẩm xét xử lại vụ án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị. Biểu hiện rõ nhất của hoạt động "xét xử lại vụ án" là ở quy định Tòa án cấp giám đốc thẩm có quyền sửa lại nội dung của bản án hoặc quyết định bị kháng nghị. Thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự được hoàn thiện một bước căn bản trong BLTTDS năm 2004. Theo các quy định này, Tòa án cấp giám đốc thẩm không có quyền sửa bản án, quyết định bị kháng nghị mà chỉ có quyền bác kháng nghị, giữ nguyên bản án, quyết định đó hoặc hủy bản án, quyết định để giao cho Tòa án cấp dưới xét xử lại.
Như vậy, giám đốc thẩm không còn được hiểu là việc "xét xử lại vụ án" như giai đoạn trước nữa mà chỉ là việc "xét lại bản án, quyết định" có hiệu lực pháp luật. Đây thực sự là sự thay đổi căn bản quan niệm về bản chất của giám đốc thẩm chứ không chỉ là việc thay đổi câu chữ trong cách diễn đạt. Như vậy, phải cần đến gần nửa thế kỷ, Việt Nam mới có được một quan niệm tương đối đúng đắn, tương đồng với pháp luật các nước về giám đốc thẩm trong khi chúng ta đều biết rằng, trước khi có quy định về giám đốc thẩm, thủ tục giám đốc thẩm, ở Việt Nam đã từng biết đến thuật ngữ "phá án", thủ tục phá án với bản chất tương tự. Thủ tục giám đốc thẩm theo quy định của BLTTDS Việt Nam hiện hành có những đặc điểm chính sau đây: Đặc điểm thứ nhất, với quan niệm mới về bản chất của giám đốc thẩm, chế định giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự được xây dựng với tính 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chất của một thủ tục "đặc biệt" đã được khắc họa rõ nét hơn, thể hiện qua những quy định cấu thành sau đây: Một là, BLTTDS lần đầu tiên xây dựng một điều luật chính thức đưa ra khái niệm về giám đốc thẩm, nội dung điều luật khẳng định tính chất của giám đốc thẩm "là xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án".
Với quy định này, giám đốc thẩm không phải là thủ tục thông thường và cũng không phải là cấp xét xử thứ ba (như cách mà người ta vẫn hiểu về thủ tục giám đốc thẩm theo quy định của PLTTGQCVADS). Giám đốc thẩm là thủ tục "xét lại" bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật chứ không phải là thủ tục "xét xử lại vụ án"; đối tượng của hoạt động "xét lại" không phải là "vụ án" mà là các bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án (Điều 282 BLTTDS). Hai là, căn cứ mở thủ tục giám đốc thẩm chỉ có thể là kháng nghị của người có thẩm quyền do pháp luật quy định. Thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm chỉ thuộc về một số ít người là người đứng đầu cơ quan Tòa án và VKS ở cấp tỉnh và cấp tối cao.
Chánh án TAND cấp tỉnh, Viện trưởng VKSND cấp tỉnh có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp huyện, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán TANDTC. Thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm của Phó Chánh án TANDTC và Phó Viện trưởng VKSNDTC theo quy định của PLTTGQCVADS đã bị hủy bỏ nhằm nâng cao trách nhiệm của người ra kháng nghị, nâng cao chất lượng kháng nghị (Điều 285 BLTTDS). Ba là, việc kháng nghị chỉ được tiến hành trong trường hợp có vi phạm pháp luật đến mức nghiêm trọng được BLTTDS quy định. Theo quy định tại Điều 283, những căn cứ sau đây được coi là vi phạm pháp luật đến mức 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com "nghiêm trọng" trong việc giải quyết vụ án: 1.
Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; 2. Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; 3. Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật. Bốn là, có ba cấp giám đốc thẩm: Ủy ban thẩm phán TAND cấp tỉnh giám đốc thẩm những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp huyện bị kháng nghị, nhằm hạn chế việc giám đốc thẩm bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới dồn lên TANDTC, nơi mà hiện nay đã thực sự quá tải về án giám đốc thẩm; Những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh bị kháng nghị, theo từng loại vụ việc sẽ được giám đốc thẩm tại Tòa dân sự, Tòa lao động, Tòa kinh tế của TANDTC; Hội đồng Thẩm phán TANDTC chỉ giám đốc thẩm những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các tòa chuyên trách của TANDTC bị kháng nghị.
Trong trường hợp có "xung đột" về thẩm quyền giám đốc thẩm của các cấp khác nhau thì cấp có thẩm quyền cấp trên giám đốc thẩm toàn bộ vụ án (Điều 291 BLTTDS). Năm là, phạm vi giám đốc thẩm bị giới hạn bởi phạm vi của kháng nghị. Chỉ có phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị mới được đưa ra xem xét. Phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không bị kháng nghị hoặc không có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị chỉ bị xem xét lại nếu nó xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của người thứ ba không phải là đương sự trong vụ án (Điều 296 BLTTDS).
Sáu là, không đặt ra vấn đề giám đốc thẩm quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC vì Hội đồng Thẩm phán TANDTC là cấp giám đốc thẩm cao nhất và quyết định của cơ quan này còn mang ý nghĩa là khuôn mẫu, hướng dẫn công tác xét xử nên phải được coi là quyết định cuối cùng, quyết định tối cao (Điều 285 Khoản 1 BLTTDS). 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bảy là, phiên tòa giám đốc thẩm không mở công khai. Về thành phần tham gia, chỉ đại diện VKS cùng cấp bắt buộc phải có mặt, những người tham gia tố tụng và những người khác có liên quan đến việc kháng nghị chỉ được tham gia phiên tòa giám đốc thẩm trong trường hợp Tòa án "xét thấy cần thiết" (Điều 292 BLTTDS).