Đặt vấn đề Cá rô phi là tên gọi chung của khoảng 80 loài cá thuộc họ Cichlidae, có nguồn gốc Châu Phi. Mặc dù cá có nguồn gốc từ Châu Phi, nhƣng chúng lại đƣợc nuôi tập trung chủ yếu ở 2 khu vực chính đó là các nƣớc châu Á và Nam Mỹ, trong đó sản lƣợng cá rô phi ở các nƣớc châu Á chiếm đến 80% sản lƣợng cá rô phi trên toàn thế giới. Hệ có khoảng trên 100 nƣớc trên thế giới nuôi cá rô phi với các loài khác nhau nhƣng chủ yếu tập trung vào các loài cá rô phi vằn. Cá rô phi đƣợc coi là đối tƣợng thủy sản có tiềm năng to lớn cho tiêu thụ nội địa và cho xuất khẩu nên đang đƣợc đầu tƣ nghiên cứu phát triển mạnh trong thế kỷ 21 (Fitzsimmons, 2000) [18].
Cá rô phi là loài cá nuôi nƣớc ngọt quan trọng có sản lƣợng cao thứ hai sau nhóm cá chép. Trong thập niên từ 2002 đến 2011, sản lƣợng cá rô phi tăng từ 1,115 triệu tấn lên 3,2 triệu tấn, đạt tốc độ tăng trƣởng sản lƣợng trung bình 28,7%/năm. Những năm gần đây sản lƣợng cá rô phi tăng trƣởng sản lƣợng trung bình >25%/năm, trở thành đối tƣợng nuôi chủ lực của nhiều quốc gia. Hiện nay, cá rô phi đã đƣợc nuôi ở trên 100 nƣớc trên thế giới, trong đó Trung Quốc và các nƣớc còn lại ở châu Á là khu vực sản xuất cá rô phi lớn nhất, chiếm 75% tổng sản lƣợng cá rô phi thế giới.
Sự tăng trƣởng nhanh về sản lƣợng cá rô phi ngoài những đóng góp quan trọng từ công nghệ nuôi, tăng mức độ thâm canh và siêu thâm canh, công nghệ sản xuất thức ăn công nghiệp phát triển, còn có sự đóng góp quan trọng từ các chƣơng trình chọn giống. Nhiều tính trạng đã đƣợc cải thiện vƣợt bậc sau chọn giống, đặc biệt là tính trạng tăng trƣởng, tỷ lệ sống cao, sức chống chịu, kháng bệnh tốt… Bên cạnh đó công nghệ sản xuất cá rô phi đơn tính đực bằng hooc môn cũng dần đƣợc thay thế bằng công nghệ c 2 lai khác loài giữa cá rô phi Oreochromis niloticus và cá Rô phi xanh Oreochromis aureus tạo ra con lai có tỷ lệ giới tính đực >95%. Hiện có rất nhiều dòng rô phi đƣợc nuôi ở Việt Nam, trong đó dòng rô phi Đƣờng Nghiệp đang đƣợc ƣa chuộng hơn cả với ƣu điểm tốc độ tăng trƣởng nhanh, khả năng chống bệnh và chịu lạnh cao. Bản chất, rô phi Đƣờng nghiệp là thế hệ F1 của 2 loài Oreochromis aureaus và Oreochromis niloticus và có khả năng phân tính đực cái.
Sản xuất giống rô phi Đƣờng nghiệp xuất hiện đầu tiên ở Phillipine, sau đó công nghệ đƣợc chuyển giao sang Trung Quốc. Dòng rô phi này mới đƣợc đƣa về nuôi và sản xuất giống ở Việt Nam trong vòng 2-3 năm trở lại đây nhƣng đã nhanh chóng đƣợc bà con nông dân chọn nuôi thay thế cho những dòng cá rô phi trƣớc đây do những ƣu việt của nó. Rô phi đơn tính dòng Đƣờng nghiệp có tốc độ tăng trƣởng trung bình cao khoảng 1-1,4kg/con/6 tháng, gấp 1,4 - 1,6 lần dòng GIFT vẫn đƣợc nuôi trên địa bàn, năng suất đạt 20 - 20,7 tấn/ha. Cá có thời gian nuôi ngắn, hệ số tiêu tốn thức ăn thấp, ít bị phân đàn thuận lợi cho quá trình chăm sóc, quản lý và thu hoạch.
Rô phi đơn tính Đƣờng Nghiệp là loài cá dễ nuôi, có khả năng thích ứng với mùa đông ở Miền Bắc. Giống cá này đƣợc nhiều đánh giá cho là có hiệu quả kinh tế cao, có triển vọng nhân ra diện rộng, tạo hƣớng đi mới cho nhiều vùng nuôi trồng thủy sản.Vì vậy, cá đạt năng suất cao và mang lại giá trị kinh tế giúp bà con cải thiện cuộc sống. Để hiểu biết thêm về khả năng thích nghi và sinh trƣởng của cá rô phi Đƣờng Nghiệp tại Thái Nguyên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thử nghiệm quy trình nuôi rô phi dòng Đƣờng Nghiệp trong lồngtại hồ Núi Cốc”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1.
Mục đích nghiên cứu - Thấy đƣợc hiệu quả kinh tế của nuôi thƣơng phẩm cá rô phi đơn tính Dòng đƣờng nghiệp sử dụng 2 loại thức ăn tự chế và thức ăn tổng hợp. - Thấy đƣợc khả năng thích nghi và sinh trƣởng của cá rô phi đơn tính dòng Đƣờng nghiệp tại Thái Nguyên. - Xác định tỷ lệ sống và sự phát triển của cá trong giai đoạn nuôi thƣơng phẩm. Yêu cầu của đề tài - Nắm vững quy trình kỹ thuật nuôi cá rô phi đơn tính thƣơng phẩm.
- Nắm vững kỹ thuật về chuẩn đoán và điều trị bệnh cho cá rô phi đơn tính. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở đánh giá mức độ thích nghi, khả năng sinh trƣởng cá rô phi dòng Đƣờng Nghiệp trong lồng tại hồ Núi Cốc. Đây là những nghiên cứu ban đầu về sinh trƣởng của cá rô phi dòng Đƣờng nghiệp khi sử dụng hai loại thức ăn là thức ăn tự chế và thức ăn công nghiệp.
Ý nghĩa trong thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để đánh giá khả năng nuôi cá Rô phi dòng Đƣờng Nghiệp trong lồng bè trên hồ Núi Cốc, là cơ sở để áp dụng vào thực tiễn sản xuất. Đánh giá đƣợc tốc độ sinh trƣởng của cá Rô phi sử dụng hai loại thức ăn tự chế và công nghiệp. c 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2.
Cơ sở khoa học 2.Phân loại Cá rô phi có nguồn gốc từ Châu Phi, hiện chúng đƣợc nuôi tại hơn 100 quốc gia trên thế giới. Dựa vào đặc điểm sinh sản và hình thái học ngƣời ta chia cá rô phi thành 3 giống(Trewavas, 1983) [25]: giống Tilapia đẻ trứng bám vào giá thể; Giống Sarotherodon cá đực hay cá cái ấp trứng trong miệng; Giống Oreochromis cá cái ấp trứng trong miệng. Hiện nay trên thế giới có khoảng hơn 80 loài cá rô phi dòng cichlidae nhƣng chỉ có khoảng 10 loài có giá trị kinh tế trong nuôi trồng thủy sản(Macintosh và Little, 1995) [21]. Hệ thống phân loại cá rô phi đơn tính dòng Đƣờng nghiệp nhƣ sau: Bộ cá vƣợc: PerciForms Bộ phụ: Percoidae Họ: Cichlidae Giống: Oreochormis Loài: Con lai F1 giữa loài cá rô phi O.
Niloticus (cá mẹ) có nguồn gốc Đài Loan. Đặc điểm hình thái Cá rô phi đơn tính Đƣờng nghiệp có thân hình màu hơi tím, vẩy sáng bóng, có 9-12 sọc đậm song song nhau từ lƣng xuống bụng. Vây đuôi có màu sọc đen sậm song song từ phía trên xuống phía dƣới và phân bố khắp vi đuôi. Vây lƣng có những sọc trắng chạy song song trên nền xám đen.
Viền vây lƣng và vây đuôi có màu hồng nhạt.1: Cá rô phi đơn tính dòng Đƣờng Nghiệp 2. Tập tính ăn Cá rô phi là loài ăn tạp, thức ăn của chúng chủ yếu là thực vật phù du, động vật phù du, mùn bã hữu cơ, ấu trùng côn trùng, động vật đáy. Khi trƣởng thành cá ăn mùn bã hữu cơ lẫn các loại tảo lắng ở đáy ao, ấu trùng côn trùng, thực vật thủy sinh (Nguyễn Văn Hảo, 2009) [4]. Tuy nhiên trong ao nuôi cá ăn cả thức ăn chế biến và thức ăn công nghiệp.
Đặc điểm sinh trưởng Cá rô phi đơn tính dòng Đƣờng Nghiệp có tốc độ tăng trƣởng trung bình cao khoảng 125-142g/con/tháng, gấp 1,4 -1,6 lần rô phi đơn tính dòng Gift, năng suất đạt khoảng 20 tấn/ha. Có thời gian nuôi ngắn, hệ số tiêu tốn thức ăn thấp, ít bị phân đàn thuận lợi cho quá trình chăm sóc, quản lý và thu hoạch. Sự sinh trƣởng của cá rô phi mang tính đặc trƣng của loài, các loài rô phi khác nhau có tốc độ sinh trƣởng khác nhau. niloticus có tốc độ tăng trƣởng nhanh và vƣợt trội so với loài O.
Cá rô phi loài O. niloticus có tốc độ tăng trƣởng nhanh nhất c 6 sau đó đến O. Trong cùng một loài các dòng khác nhau cũng có tốc độ tăng trƣởng khác nhau. Khi nghiên cứu về sự sinh trƣởng của 3 dòng cá O.
niloticus là dòng Egypt, dòng Ivory Coast và dòng Ghana trong cùng một điều kiện nuôi cho thấy dòng Egypt có tốc độ tăng trƣởng nhanh nhất, kém nhất là dòng Ghana (Khater và Smitherman, 1998 trích theo Lê Ngọc Khánh, 2013) [7]. Nghiên cứu về sinh trƣởng ở Philippin đối với cá O. niloticus dòng Israel, dòng Singapore và dòng Đài Loan kết quả cho thấy dòng Israel có tốc độ tăng trƣởng tốt nhất, kém nhất là dòng Đài Loan (Tayamen và Guerrero, 1998)[26]. Khi so sánh tốc độ sinh trƣởng và hệ số thức ăn của cá rô phi O.
niloticus chọn giống dòng GIFT và dòng không đƣợc chọn giống, kết quả cho thấy cá chọn giống dòng GIFT có tốc độ sinh trƣởng nhanh hơn và hệ số thức ăn cũng thấp hơn so với dòng cá không chọn giống (Ridha, 2004 trích theo Lê Thanh Hải, 2007) [5]. So sánh sinh trƣởng và tỷ lệ sống của cá rô phi GenoMar và Superme Tilapia dòng GST1 và GST3, kết quả cũng cho thấy dòng GST3 có ƣu thế vƣợt trội cả về sinh trƣởng và tỷ lệ sống (Zimmermann và Natividad, 2004)[27]. Ở Việt Nam khi nghiên cứu về tốc độ sinh trƣởng của các dòng cá O. niloticus, cá rô phi dòng GIFT sinh trƣởng nhanh nhất, tiếp đến là dòng Việt và dòng Thái, sinh trƣởng chậm nhất là dòng Ai (Nguyễn Công Dân, 1998) [2].
So sánh về tốc độ tăng trƣởng của con lai các dòng cá rô phi bằng phƣơng pháp lai khác loài cũng cho những kết quả khác nhau ở các dòng con lai. Tốc độ tăng trƣởng của con lai giữa cá ♂ O. aureus x ♀ GIFT lớn hơn con lai giữa cá♂O. niloticus Thái và thấp nhất là con lai giữa ♂O.
Pullin (1998) [23] cho rằng con lai giữa O.aureus có ƣu thế về sinh trƣởng tốt hơn sovới bố mẹ của chúng. Theo Suat Dikel (2001) (trích theo Lê Thanh Hải, 2007) [5] khi so sánh tốc độ sinh trƣởng của con lai 3 dòng rô phi: O. aureus và con lai giữa ♂ O. niloticus thì tốc độ tăng trƣởng ở con lai khác loài là lớnnhất.
Theo kết quả nghiên cứu của Lê Thanh Hải (2007) [5], giai đoạn nuôi thƣơng phẩm NOVIT 4 có tốc độ sinh trƣởng cao nhất đạt 1,9g/con/ngày, kế đến là dòng GIFT đạt 1,65g/con/ngày và thấp nhất dòng Việt đạt 1,44g/con/ngày. Nhiệt độ Nhiệt độ cần thiết cho sự phát triển của cá rô phi từ 20-32oC. Khả năng chịu đựng với biến đổi nhiệt độ cũng rất cao từ 8 - 42oC, cá chết rét ở 5,5oC và bắt đầu chết nóng ở 42oC. Nhiệt độ càng thấp thì cá càng giảm ăn, ức chế sự tăng trƣởng và tăng rủi ro nhiễm bệnh.
Cá rô phi là loài cá có nguồn gốc nhiệt đới nên khả năng thích nghi với nhiệt độ cao tốt hơn với nhiệt độ thấp.