Luận văn: Thu hút vốn doanh nghiệp đầu tư KH&CN tại Thanh Hóa

Luận văn thạc sĩ: Giải pháp thu hút vốn doanh nghiệp đầu tư vào khoa học và công nghệ tại Thanh Hóa. Nghiên cứu chuyên sâu, đề xuất hiệu quả.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

99
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan thu hút vốn KH CN Thanh Hóa Tiềm năng và Cơ hội

Việc thu hút vốn doanh nghiệp cho khoa học và công nghệ (KH&CN) là yếu tố sống còn để nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững cho Thanh Hóa. Trong bối cảnh ngân sách nhà nước có hạn, việc huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp, trở thành nhiệm vụ chiến lược. Thanh Hóa sở hữu tiềm năng lớn với nguồn nhân lực dồi dào và các ngành kinh tế trọng điểm như nông nghiệp, công nghiệp chế biến. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành hiện thực, cần có một môi trường đầu tư kinh doanh Thanh Hóa thực sự hấp dẫn, minh bạch và hỗ trợ doanh nghiệp. Việc tạo ra một hệ sinh thái nơi doanh nghiệp thấy rõ lợi ích khi đầu tư vào R&D sẽ là chìa khóa mở ra cánh cửa phát triển, giúp tỉnh không chỉ bắt kịp mà còn vươn lên trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Bài viết này sẽ phân tích sâu thực trạng, chỉ ra các rào cản và đề xuất những giải pháp đột phá nhằm thu hút hiệu quả dòng vốn quan trọng này.

1.1. Vai trò chiến lược của vốn doanh nghiệp trong phát triển KH CN

Vốn đầu tư từ doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Nguồn vốn này không chỉ mang ý nghĩa tài chính mà còn là chỉ báo cho thấy sự gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu và thị trường. Khi doanh nghiệp đầu tư, các hoạt động R&D sẽ tập trung vào việc giải quyết các vấn đề thực tiễn, tạo ra sản phẩm có tính ứng dụng cao và có khả năng thương mại hóa. Điều này giúp tránh lãng phí nguồn lực vào các nghiên cứu xa rời thực tế. Luận văn của Trần Văn Thắng (2018) nhấn mạnh, các quốc gia phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc có tỷ lệ đầu tư cho KH&CN từ doanh nghiệp chiếm tới 70-80%. Đây là bài học kinh nghiệm quý giá cho Thanh Hóa, cho thấy việc thúc đẩy liên kết doanh nghiệp và viện nghiên cứu và khuyến khích doanh nghiệp thành lập quỹ phát triển KH&CN là hướng đi tất yếu để tạo ra sự đột phá.

1.2. Đánh giá sơ bộ môi trường đầu tư KH CN tại Thanh Hóa

Môi trường đầu tư KH&CN tại Thanh Hóa đang có những chuyển biến tích cực nhưng vẫn còn nhiều điểm cần cải thiện. Tỉnh đã có những chủ trương, chính sách ban đầu nhằm khuyến khích doanh nghiệp, tuy nhiên hiệu quả thực thi chưa cao. Một khảo sát được trích dẫn trong nghiên cứu cho thấy, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa biết đến các ưu đãi đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao hoặc e ngại các thủ tục hành chính phức tạp. Nguồn vốn ngoài ngân sách huy động cho KH&CN mỗi năm chỉ đạt khoảng 20 tỷ đồng, một con số rất khiêm tốn so với nhu cầu. Việc cải thiện năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) không chỉ nằm ở hạ tầng, thủ tục mà còn phải tập trung vào việc xây dựng một hệ sinh thái hỗ trợ đổi mới sáng tạo, nơi các doanh nghiệp cảm thấy được khuyến khích và an toàn khi đầu tư vào tài sản vô hình là công nghệ.

II. Top 3 rào cản chính khi thu hút vốn doanh nghiệp cho KH CN

Mặc dù chủ trương đã có, quá trình thu hút vốn doanh nghiệp cho KH&CN tại Thanh Hóa vẫn đối mặt với nhiều thách thức cố hữu. Những rào cản này không chỉ đến từ cơ chế chính sách mà còn xuất phát từ chính nội tại của doanh nghiệp và sự thiếu kết nối trong hệ sinh thái. Việc nhận diện chính xác và phân tích sâu các nguyên nhân này là bước đầu tiên để xây dựng các giải pháp hiệu quả. Theo nghiên cứu, một trong những nguyên nhân quan trọng là các doanh nghiệp chưa thực sự coi đầu tư cho KH&CN là yêu cầu sống còn. Tỷ lệ chi cho hoạt động nghiên cứu triển khai của doanh nghiệp Việt Nam nói chung chỉ đạt khoảng 1.5% doanh thu, thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực. Điều này cho thấy cần có một cú hích mạnh mẽ từ chính sách và thị trường để thay đổi tư duy của doanh nghiệp, từ đó khơi thông dòng vốn đầu tư cho khoa học công nghệ.

2.1. Hạn chế trong hệ thống chính sách thu hút đầu tư KH CN Thanh Hóa

Hệ thống chính sách thu hút đầu tư KH&CN Thanh Hóa tuy đã được ban hành nhưng vẫn tồn tại nhiều bất cập. Nhiều chính sách còn chung chung, thiếu hướng dẫn cụ thể, gây khó khăn cho doanh nghiệp khi tiếp cận. Ví dụ, Nghị định 119/1999/NĐ-CP và các luật thuế dù có quy định ưu đãi nhưng thủ tục để được hưởng rất phức tạp. Một khảo sát của Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam chỉ ra rằng không có doanh nghiệp nào trong số 120 đơn vị được hỏi biết đến các chính sách ưu đãi tài chính này. Sự thiếu đồng bộ giữa các cơ quan quản lý và việc phổ biến thông tin chính sách chưa hiệu quả đã tạo ra một khoảng trống lớn giữa chủ trương của nhà nước và thực tiễn triển khai tại doanh nghiệp, làm giảm sức hấp dẫn của các công cụ khuyến khích đầu tư.

2.2. Năng lực hấp thụ công nghệ và vốn R D của doanh nghiệp còn yếu

Phần lớn doanh nghiệp tại Thanh Hóa có quy mô nhỏ và vừa, tiềm lực tài chính hạn chế, khiến việc dành ra một khoản nguồn vốn cho R&D doanh nghiệp trở nên khó khăn. Hoạt động đầu tư vào KH&CN mang tính rủi ro cao và thời gian thu hồi vốn dài, không phù hợp với tư duy kinh doanh ngắn hạn của nhiều doanh nghiệp. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực công nghệ còn thiếu, làm giảm khả năng hấp thụ và triển khai các công nghệ mới. Doanh nghiệp thiếu bộ phận chuyên trách về nghiên cứu và phát triển, dẫn đến việc đổi mới công nghệ chủ yếu dừng lại ở việc mua sắm máy móc thiết bị thay vì tự chủ sáng tạo. Đây là một điểm nghẽn lớn cần được tháo gỡ để hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo đi vào thực chất.

2.3. Thiếu vắng cơ chế liên kết doanh nghiệp và viện nghiên cứu

Sự kết nối lỏng lẻo giữa các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp là một trong những rào cản lớn nhất. Các nghiên cứu khoa học thường mang tính hàn lâm, chưa xuất phát từ nhu cầu thực tế của sản xuất kinh doanh. Ngược lại, doanh nghiệp cũng chưa chủ động đặt hàng các viện, trường để giải quyết bài toán công nghệ của mình. Việc thiếu một thị trường công nghệ minh bạch và các tổ chức trung gian uy tín để thúc đẩy xúc tiến đầu tư khoa học công nghệ đã khiến các kết quả nghiên cứu bị "cất trong ngăn kéo". Cần xây dựng những cơ chế hợp tác công-tư hiệu quả, nơi Sở KH&CN Thanh Hóa hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tìm kiếm đối tác, xác thực công nghệ và thương mại hóa các sản phẩm R&D.

III. 5 giải pháp đột phá về chính sách để thu hút vốn vào KH CN

Để vượt qua các rào cản hiện hữu, Thanh Hóa cần triển khai một hệ thống giải pháp đồng bộ và quyết liệt, tập trung vào việc cải cách cơ chế, chính sách. Mục tiêu là tạo ra một môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch và thực sự khuyến khích doanh nghiệp mạnh dạn bỏ vốn vào KH&CN. Các giải pháp không chỉ dừng lại ở ưu đãi thuế mà cần mở rộng sang các hình thức hỗ trợ tài chính trực tiếp, đơn giản hóa thủ tục và nâng cao vai trò kiến tạo của chính quyền. Kinh nghiệm từ Trung Quốc và Nhật Bản cho thấy, sự can thiệp của nhà nước thông qua các chính sách thông minh là yếu tố quyết định để định hướng dòng vốn xã hội vào các lĩnh vực công nghệ ưu tiên, từ đó tạo ra lợi thế cạnh tranh quốc gia. Đây là con đường mà Thanh Hóa cần học hỏi và áp dụng một cách sáng tạo.

3.1. Cải cách thủ tục cung cấp ưu đãi đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao

Cần rà soát và đơn giản hóa toàn bộ các thủ tục hành chính liên quan đến việc hưởng ưu đãi đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao. Thay vì yêu cầu doanh nghiệp chứng minh phức tạp, có thể áp dụng cơ chế "hậu kiểm" hoặc xây dựng tiêu chí rõ ràng, công khai. Các ưu đãi cần thực chất hơn, ví dụ như miễn giảm tiền thuê đất cho các dự án R&D, hỗ trợ lãi suất vay vốn cho các dự án đổi mới công nghệ, và đặc biệt là khấu trừ chi phí R&D ở mức cao khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Việc thực hiện cơ chế một cửa liên thông giữa Sở KH&CN, Sở Kế hoạch và Đầu tư, và Cục Thuế sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian và chi phí, tạo động lực thực sự để họ đầu tư.

3.2. Nâng cao vai trò của Sở KH CN Thanh Hóa hỗ trợ doanh nghiệp

Sở KH&CN Thanh Hóa cần đóng vai trò là "bà đỡ" cho các hoạt động đổi mới sáng tạo. Thay vì chỉ quản lý hành chính, Sở cần chủ động xây dựng các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo một cách cụ thể. Các hoạt động này bao gồm: tổ chức các sự kiện kết nối cung-cầu công nghệ, cung cấp thông tin và tư vấn miễn phí về chính sách, hỗ trợ doanh nghiệp đăng ký sở hữu trí tuệ, và triển khai các chương trình đào tạo nhân lực KH&CN. Sở KH&CN Thanh Hóa hỗ trợ doanh nghiệp hiệu quả sẽ tạo ra một điểm tựa tin cậy, giúp doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, tự tin hơn trên con đường đầu tư vào công nghệ.

3.3. Thí điểm thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm tại Thanh Hóa

Đầu tư KH&CN có rủi ro cao, do đó cần các công cụ tài chính đặc thù. Việc hình thành một quỹ đầu tư mạo hiểm tại Thanh Hóa theo mô hình hợp tác công-tư là một giải pháp đột phá. Quỹ này sẽ đầu tư vào các startup công nghệ và các dự án R&D tiềm năng mà các kênh tín dụng truyền thống thường từ chối. Nguồn vốn của quỹ có thể đến từ ngân sách tỉnh (vốn mồi), vốn góp từ các doanh nghiệp lớn và các nhà đầu tư tư nhân. Sự ra đời của quỹ không chỉ giải quyết bài toán vốn mà còn tạo ra một hệ sinh thái chuyên nghiệp với các chuyên gia có khả năng thẩm định dự án và hỗ trợ startup phát triển, góp phần quan trọng vào việc phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Thanh Hóa.

IV. Phương pháp xây dựng hệ sinh thái thu hút vốn KH CN hiệu quả

Chính sách là điều kiện cần, nhưng một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo năng động mới là điều kiện đủ để thu hút và giữ chân dòng vốn đầu tư. Việc xây dựng hệ sinh thái này đòi hỏi một cách tiếp cận tổng thể, kết nối các thành phần riêng lẻ - doanh nghiệp, viện nghiên cứu, chính quyền, nhà đầu tư - thành một mạng lưới cộng sinh, hỗ trợ lẫn nhau. Mục tiêu là tạo ra một môi trường nơi các ý tưởng sáng tạo dễ dàng được hình thành, được nuôi dưỡng bằng nguồn vốn và nguồn lực phù hợp, và cuối cùng được thương mại hóa thành công. Điều này không chỉ giúp huy động vốn cho startup công nghệ mà còn thúc đẩy quá trình chuyển đổi số doanh nghiệp Thanh Hóa một cách toàn diện, nâng cao năng suất và hiệu quả hoạt động cho toàn bộ nền kinh tế của tỉnh.

4.1. Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư khoa học công nghệ

Hoạt động xúc tiến đầu tư khoa học công nghệ cần được chuyên nghiệp hóa và thực hiện một cách có mục tiêu. Thay vì các hội thảo chung chung, cần tổ chức các sự kiện chuyên ngành, tập trung vào các lĩnh vực thế mạnh của Thanh Hóa như nông nghiệp công nghệ cao, chế biến, và vật liệu mới. Các sự kiện này cần có sự tham gia của các quỹ đầu tư, các tập đoàn lớn và các chuyên gia công nghệ để tạo ra các cơ hội hợp tác thực chất. Xây dựng một cổng thông tin trực tuyến về cơ hội đầu tư KH&CN tại Thanh Hóa, nơi cập nhật các dự án tiềm năng, các công nghệ sẵn sàng chuyển giao và các chính sách ưu đãi, sẽ là công cụ hữu hiệu để tiếp cận các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

4.2. Kích hoạt các kênh huy động vốn cho startup công nghệ

Bên cạnh quỹ đầu tư mạo hiểm, cần đa dạng hóa các kênh huy động vốn cho startup công nghệ. Cần khuyến khích sự hình thành của các mạng lưới nhà đầu tư thiên thần, tổ chức các cuộc thi khởi nghiệp (pitching competition) để kết nối startup với nhà đầu tư. Hỗ trợ pháp lý và tài chính để các doanh nghiệp tiềm năng có thể tham gia các nền tảng gọi vốn cộng đồng (crowdfunding) cũng là một hướng đi mới. Việc tạo ra nhiều kênh tiếp cận vốn sẽ giúp các ý tưởng sáng tạo không bị "chết yểu" vì thiếu kinh phí ban đầu, từ đó làm phong phú thêm hệ sinh thái khởi nghiệp của tỉnh.

4.3. Thúc đẩy chương trình chuyển đổi số doanh nghiệp Thanh Hóa

Chuyển đổi số là con đường ngắn nhất để doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị và cạnh tranh, đồng thời tạo ra nhu cầu tự thân về ứng dụng công nghệ. Tỉnh cần có chương trình chuyển đổi số doanh nghiệp Thanh Hóa với các gói hỗ trợ cụ thể: hỗ trợ chi phí tư vấn, cung cấp các nền tảng phần mềm dùng chung, đào tạo nhân lực số. Khi doanh nghiệp nhận thấy lợi ích rõ rệt từ việc áp dụng công nghệ số vào quản lý, bán hàng, marketing, họ sẽ có động lực lớn hơn để đầu tư vào các giải pháp công nghệ sâu hơn, tạo ra một chu kỳ đầu tư-phát triển bền vững.

V. Triển vọng tương lai Thu hút vốn KH CN để nâng cao cạnh tranh

Việc thu hút thành công vốn doanh nghiệp vào KH&CN sẽ là đòn bẩy chiến lược, quyết định vị thế của Thanh Hóa trong bối cảnh kinh tế mới. Một khi dòng vốn này được khơi thông, nó sẽ tạo ra hiệu ứng lan tỏa tích cực: doanh nghiệp trở nên cạnh tranh hơn, các ngành kinh tế có hàm lượng công nghệ cao phát triển, thu hút thêm nhiều dự án đầu tư chất lượng, và cuối cùng là nâng cao toàn diện năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Tương lai của nền kinh tế Thanh Hóa phụ thuộc rất lớn vào khả năng xây dựng một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo cởi mở, năng động và thực sự lấy doanh nghiệp làm trung tâm. Đây là một hành trình dài hạn, đòi hỏi sự quyết tâm chính trị, sự đồng lòng của cộng đồng doanh nghiệp và sự tham gia tích cực của các viện, trường.

5.1. Lộ trình phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo

Để phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Thanh Hóa một cách bền vững, cần có một lộ trình rõ ràng theo từng giai đoạn. Giai đoạn đầu (1-2 năm) tập trung vào hoàn thiện khung chính sách, nâng cao nhận thức và xây dựng các nền tảng ban đầu như không gian làm việc chung, vườn ươm doanh nghiệp. Giai đoạn tiếp theo (3-5 năm) tập trung vào việc hình thành các quỹ đầu tư, tăng cường kết nối quốc tế và thương mại hóa các sản phẩm KH&CN thành công. Lộ trình này cần được theo dõi, đánh giá thường xuyên để có sự điều chỉnh kịp thời, đảm bảo hệ sinh thái phát triển thực chất và hiệu quả.

5.2. Dự báo xu hướng và cơ hội đầu tư KH CN giai đoạn mới

Trong giai đoạn tới, các xu hướng công nghệ như Trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT) và Công nghệ sinh học sẽ mở ra nhiều cơ hội đầu tư mới. Tại Thanh Hóa, các lĩnh vực tiềm năng nhất bao gồm đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao Thanh Hóa (nông nghiệp chính xác, chế biến sâu), công nghệ vật liệu mới phục vụ xây dựng và công nghiệp, và các giải pháp số hóa cho du lịch và dịch vụ. Việc nắm bắt kịp thời các xu hướng này và xây dựng các chính sách thu hút đầu tư chuyên biệt cho từng lĩnh vực sẽ giúp Thanh Hóa đón đầu làn sóng công nghệ mới, tạo ra những ngành kinh tế mũi nhọn và nâng cao vị thế của tỉnh trên bản đồ kinh tế quốc gia.

26/09/2025
Luận văn thạc sĩ thu hút nguồn vốn doanh nghiệp đầu tư cho hoạt động khoa học và công nghệ thanh hóa

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc thu hút nguồn vốn doanh nghiệp đầu tƣ cho khoa học và công nghệ. Phƣơng pháp nghiên cứu Chương 3. Phân tích thực trạng thu hút nguồn vốn doanh nghiệp đầu tƣ cho hoạt động KH&CN của tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2011-2015.

Đề xuất các giải pháp thu hút vốn đầu tƣ của doanh nghiệp cho hoạt động KH&CN. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THU HÚT NGUỒN VỐN DOANH NGHIỆP ĐẦU TƢ CHO KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu 1. Các khái niệm Hoạt động KH&CN: Hoạt động khoa học và công nghệ theo Luật khoa học và Công nghệ (năm 2013) là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ.

Vốn ngoài ngân sách đầu tư cho hoạt động KH&CN: Bao gồm tất cả các nguồn vốn ngoài ngân sách huy động trong xã hội và qua các con đƣờng hợp tác quốc tế sử dụng cho hoạt động KH&CN. Một số nguồn vốn chính ngoài ngân sách có thể huy động cho hoạt động KH&CN nhƣ: Nguồn vốn doanh nghiệp (bao gồm cả doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh thông thƣờng và các doanh nghiệp KHCN) để thực hiện các đề tài/ dự án KH&CN, hỗ trợ phát triển KH&CN của doanh nghiệp. Nguồn vốn của các tổ chức cá nhân tự bỏ ra để thực hiện các hoạt động nghiên cứu ứng dụng, môi giới, dịch vụ KH&CN, đối ứng thực hiện các đề tài dự án KH&CN có sử dụng vốn ngân sách nhà nƣớc hoặc vốn của các tổ chức quốc tế. Nguồn vốn liên doanh, liên kết của các tổ chức cá nhân trong và ngoài nƣớc đầu tƣ, ứng dụng KH&CN.

Nguồn vốn hợp tác quốc tế và tài trợ của các cá nhân, các tổ chức quốc tế. Trong các loại nguồn vốn trên, vốn đầu tƣ của doanh nghiệp cho hoạt động 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com KH&CN quyết định tính chất xã hội hoá về lĩnh vực đầu tƣ tài chính cho hoạt động KH&CN và là nguồn lực tài chính quan trọng để phát triển KH&CN. Doanh nghiệp: Theo Luật Doanh nghiệp (năm 2014), doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, đƣợc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. Các loại hình doanh nghiệp hiện nay ở Việt Nam gồm: Doanh nghiệp tƣ nhân, công ty hợp danh, công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp nhà nƣớc.

Xét theo tiêu chí vốn và lao động, doanh nghiệp đƣợc phân thành: doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ. Tiêu chí xác định doanh nghiệp Quy mô Doanh Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Khu vực nghiệp siêu nhỏ Số lao Tổng Số lao Tổng nguồn Số lao động động nguồn động vốn vốn I. Nông, lâm 10 ngƣời 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 nghiệp và trở xuống trở xuống ngƣời đến đồng đến ngƣời đến 300 thủy sản 200 ngƣời 100 tỷ đồng ngƣời II. Công 10 ngƣời 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 nghiệp và trở xuống trở xuống ngƣời đến đồng đến ngƣời đến 300 xây dựng 200 ngƣời 100 tỷ đồng ngƣời III.

Thƣơng 10 ngƣời 10 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 mại và dịch trở xuống trở xuống ngƣời đến đồng đến 50 ngƣời đến 100 vụ 50 ngƣời tỷ đồng ngƣời (Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009) 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đầu tư của doanh nghiệp cho hoạt động KH&CN: là việc doanh nghiệp bỏ vốn (chi kinh phí) để tiến hành các hoạt động khoa học và công nghệ. Việc tăng đầu tƣ của doanh nghiệp cho hoạt động KH&CN chính là tăng vốn (tăng chi kinh phí) cho các hoạt động KH&CN. * Vốn đầu tư của doanh nghiệp cho hoạt động KH&CN: Về mặt pháp lý, hiện nay chƣa có quy định đầu tƣ của doanh nghiệp cho hoạt động nào, nội dung gì thì đƣợc coi là đầu tƣ cho KH&CN. Tổng quan tình hình nghiên cứu về việc tăng vốn ngoài ngân sách đầu tư cho hoạt động khoa học và công nghệ Tăng vốn đầu tƣ ngoài ngân sách, đặc biệt là nguồn vốn của doanh nghiệp cho hoạt động khoa học và công nghệ đang là vấn đề rất cấp thiết ở nƣớc ta hiện nay.

Đã có nhiều nghiên cứu đề cập đến vấn đề này dƣới nhiều góc độ khác nhau cả ở trong và ngoài nƣớc. Trung Quốc là một trong những nƣớc đầu tiên trong khu vực đƣa ra khái niệm về thị trƣờng KH&CN, trong đó Doanh nghiệp đƣợc xem là chủ thể chính của thị trƣờng KH&CN. Nhà nƣớc đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích các doanh nghiệp nhập khẩu đổi mới công nghệ, nghiên cứu giải mã công nghệ, sáng tạo công nghệ mới. Hiện nay, chi tiêu cho nghiên cứu và triển khai của các doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất ( 61%) trong tổng chi phí nghiên cứu triển khai trong cả nƣớc; 40% cán bộ nghiên cứu khoa học của Trung Quốc làm việc trong các doanh nghiệp vừa và lớn (trong khi ở Việt Nam lực lƣợng cán bộ này chủ yếu làm việc ở viện nghiên cứu, chỉ một số ít làm việc trong các công ty lớn và công ty liên doanh nƣớc ngoài).

Theo số liệu của Bộ KH&CN: Đầu tƣ xã hội cho KH&CN ở liên minh Châu âu là khoảng 2%, Nhật bản 3,15%, Trung Quốc 1,5%, Mỹ 2,6%, Hàn quốc 5%. Nghị viện châu âu mới đây đã phê chuẩn dự án đầu tƣ 54 tỉ Euro 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đầy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, tập trung các lĩnh vực trọng điểm nhƣ truyền thông, y tế, vận tải, công nghiệp năng lƣợng và môi trƣờng. Tuy chƣa có một công trình nào đƣợc đăng tải các kết quả nghiên cứu sâu về vấn đề này, nhƣng theo các nghiên cứu gần đây nhất của Bộ KH&CN cho thấy ở các nƣớc phát triển, đầu tƣ cho hoạt động KH&CN đƣợc xã hội hoá rất cao, tỷ lệ nguồn đầu tƣ xã hội trên đầu tƣ từ ngân sách Nhà nƣớc là 5/1, trong khi ở Việt nam tỷ lệ này là 1/3, điều này lý giải một phần nào tốc độ phát triển nhanh chóng về KH&CN của các nƣớc chính là do có sự huy động tối đa nguồn đầu tƣ xã hội cho KH&CN từ những cơ chế chính sách khuyến khích phù hơp với các thành phần kinh tế và trình độ phát triển của đất nƣớc. Ở nƣớc ta, từ một số kết quả điều tra, khảo sát cho thấy doanh nghiệp ở Việt Nam đầu tƣ cho hoạt động khoa học và công nghệ còn rất thấp; cụ thể là: Kết quả khảo sát của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ƣơng thực hiện năm 2004 đối với 100 doanh nghiệp cho thấy đầu tƣ của doanh nghiệp cho đổi mới công nghệ mới chỉ đạt 3% doanh thu hằng năm.

Kết quả điều tra năm 2006 - 2007 của Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh đối với 637 doanh nghiệp cho thấy chỉ có 5,8% doanh nghiệp có đầu tƣ cho nghiên cứu, ứng dụng KH&CN với kinh phí chiếm 4% chi phí hàng năm của doanh nghiệp đó. Kết quả điều tra của Viện Chiến lƣợc và Chính sách Khoa học và Công nghệ thực hiện năm 2008-2009 tại 60 doanh nghiệp cho thấy thì chỉ có khoảng 20% doanh nghiệp có hoạt động nghiên cứu triển khai; tỷ lệ chi cho hoạt động nghiên cứu triển khai bình quân mới đạt 1,5% doanh thu hằng năm của doanh nghiệp. Theo Báo cáo của Tổ công tác thi hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tƣ (năm 2010) thì các doanh nghiệp tƣ nhân ở Việt Nam mới chỉ dành 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khoảng 0,5% tổng doanh thu để đầu tƣ đổi mới công nghệ, mức thấp hơn rất nhiều so với yêu cầu phát triển (trong khi chỉ số này ở Ấn Độ, Hàn Quốc lần lƣợt là 5% và 10%). Mặc dù vấn đề có tính cấp thiết nhƣ vậy, nhƣng cho đến nay có rất ít các công trình khoa học nghiên cứu các giải pháp nhằm tăng đầu tƣ của doanh nghiệp cho khoa học và công nghệ.

Các cuộc khảo sát, điều tra đã đề cập đến ở trên, tuy có đƣa ra đƣợc con số về thực trạng đầu tƣ của doanh nghiệp cho hoạt động khoa học nhƣng lại không nghiên cứu đƣa ra các giải pháp khắc phục (vì các cuộc điều tra, khảo sát này nhằm phục vụ cho các mục đích khác). Một số công trình nghiên cứu có đề cập đến vấn đề này là: Đề tài “Tác động của cơ chế, chính sách công đến việc khuyến khích doanh nghiệp đầu tƣ vào khoa học và công nghệ'', do Viện Chiến lƣợc và Chính sách (Bộ Khoa học và Công nghệ) thực hiện năm 2007 - 2008 đã chỉ ra sự tác động của chính sách công vào hoạt động kinh tế là rất lớn, trong khi doanh nghiệp lại chịu sự tác động một cách bị động vào quá trình này và giải pháp khuyến khích doanh nghiệp đầu tƣ vào khoa học và công nghệ là cần có sự tham gia của doanh nghiệp vào quá trình xây dựng chính sách. Đề tài “Nâng cao hiệu quả một số chính sách thuế và tín dụng khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới công nghệ” do Hoàng Văn Tuyên làm chủ nhiệm, nghiên cứu về chính sách thuế và tín dụng cùng một số nỗ lực của Nhà nƣớc tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nghiên cứu và ứng dụng KH&CN vào sản xuất kinh doanh, trên cơ sở đó đã đề xuất một số biện pháp chính sách về tài chính đối với doanh nghiệp. Đề tài “Nghiên cứu xây dựng các hình thức hợp tác và cơ chế khuyến khích hợp tác viện – doanh nghiệp phát triển sản pẩm và công nghệ của doanh nghiệp” do Hoàng Thanh Hƣơng làm chủ nhiệm nhằm phân tích mối quan hệ giữa hoạt động KH&CN và hoạt động sản xuất nhằm tìm ra và kiến nghị các 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hình thức hợp tác và cơ chế khuyến khích hợp tác cho mối quan hệ này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ