Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ KHU CÔNG NGHIỆP 1. TỔNG QUAN VỀ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. Khái niệm về đầu tư và phân loại đầu tư 1. Khái niệm về đầu tư Theo Từ điển kinh tế học hiện đại thì đầu tư là thuật ngữ được dùng phổ biến nhất để mô tả các khoản chi tiêu (trong một thời kỳ nhất định) để làm tăng hay duy trì tài sản thực (David W.
Nhà kinh tế học Paul Samuelson thì cho rằng đầu tư là hoạt động tạo ra vốn tư bản thực sự, có thể là đầu tư vào tài sản cố định của doanh nghiệp như máy móc, thiết bị và nhà xưởng hoặc tăng thêm hàng tồn kho. Đầu tư cũng có thể dưới dạng vô hình như giáo dục, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nghiên cứu, phát minh (P. Theo Luật Đầu tư năm 2005 thì đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư. Từ các định nghĩa trên có thể hiểu đầu tư là những khoản chi tiêu dành cho các dự án sản xuất hàng hóa, những khoản chi tiêu này không dự định dùng cho tiêu dùng trung gian.
Các dự án đầu tư có thể có dạng bổ sung vào tài sản vật chất và vốn nhân lực (tài sản con người) cũng như hàng hóa tồn kho. Đầu tư là những khoản chi tiêu, khối lượng đầu tư được xác định bởi tất cả các dự án có giá trị hiện tại thuần (net present value - NPV) lớn hơn không (0) hay tỷ lệ lợi nhuận lớn hơn lãi suất. Từ khái niệm đầu tư nêu trên cho thấy nội hàm của khái niệm rất rộng, bao gồm cả đầu tư vào tài sản vật chất và vốn nhân lực. Quyết định đầu tư của TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 một dự án dựa trên việc tính toán giá trị hiện tại thuần của dự án đó.
Nếu giá trị hiện tại thuần lớn hơn không (0), nghĩa là đầu tư sẽ mang lại lợi nhuận; ngược lại, nếu giá trị hiện tại thuần nhỏ hơn không (0), nghĩa là đầu tư sẽ bị thua lỗ và nhà đầu tư sẽ không thực hiện đầu tư. Phân loại đầu tư Căn cứ vào tính chất đầu tư mà người ta chia đầu tư làm 2 loại, đó là đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. * Đầu tư trực tiếp Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư mà trong đó nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Đầu tư trực tiếp bao gồm các hình thức sau: - Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư trong nước hoặc 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài.
- Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. - Ðầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT. - Ðầu tư phát triển kinh doanh. - Đầu tư mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
- Ðầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp. - Các hình thức đầu tư trực tiếp khác. Nhà đầu tư có thể là Chính phủ thông qua các kênh khác nhau để đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, điều này thể hiện chi tiêu của Chính phủ thông qua đầu tư các công trình, chính sách xã hội. Ngoài ra, người đầu tư có thể là tư nhân, tập thể.
kể cả các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư trực tiếp vào Việt TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tùy theo từng trường hợp cụ thể mà các chủ thể tham gia thể hiện quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình trong quá trình đầu tư. * Đầu tư gián tiếp Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Như vậy, đầu tư gián tiếp là loại hình đầu tư mà trong đó người bỏ vốn ra và người sử dụng vốn không cùng một chủ thể.
Đầu tư gián tiếp thông thường thông qua kênh tín dụng hay kênh đầu tư trên thị trường chứng khoán. Giữa đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp có quan hệ chặt chẽ trong quá trình thực hiện đầu tư. Đầu tư trực tiếp là tiền đề để phát triển đầu tư gián tiếp, điều này thể hiện thông qua nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp từ các tổ chức tín dụng hay các doanh nghiệp phát hành cổ phiếu trên thị trường sơ cấp để huy động vốn. Mặt khác, môi trường đầu tư gián tiếp được mở rộng sẽ thúc đẩy việc đầu tư trực tiếp với mong đợi tiếp cận các nguồn vốn được dễ dàng.
Bởi vì, một khi thị trường tài chính phát triển thì nhà đầu tư có nhiều cơ hội lựa chọn các nguồn vốn có chi phí sử dụng vốn thấp, và cũng có thể sử dụng lợi thế này làm gia tăng đòn bẩy tài chính để thực hiện ý đồ kinh doanh của mình. Vốn đầu tư và phân loại vốn đầu tư 1. Khái niệm vốn đầu tư Vốn đầu tư là một khoản chi phí nhất định (có thể bằng tiền và (hoặc) bằng các tài sản khác) mà nhà đầu tư bỏ ra để thực hiện hoạt động đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp dự án đầu tư. Phân loại vốn đầu tư Tùy theo tiêu chí phân loại mà vốn đầu tư có thể được phân thành nhiều loại khác nhau.
Theo lãnh thổ quốc gia thì vốn đầu tư được chia thành 2 loại: vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 * Vốn đầu tư trong nước Vốn đầu tư trong nước là nguồn vốn bằng tiền và (hoặc) bằng các tài sản hợp pháp khác do chính phủ, các tổ chức và cá nhân trong nước bỏ ra để thực hiện đầu tư vào các dự án tại nước đó. Vốn đầu tư trong nước bao gồm nguồn vốn đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn của khu vực doanh nghiệp tư nhân và dân cư chủ yếu được hình thành từ các nguồn tiết kiệm trong nền kinh tế. Nguồn vốn này thể hiện sức mạnh nội lực của một quốc gia.
* Vốn đầu tư nước ngoài Vốn đầu tư nước ngoài là nguồn vốn bằng tiền và (hoặc) bằng các tài sản hợp pháp khác do chính phủ, các tổ chức và cá nhân ngoài nước đưa vào trong nước để thực hiện đầu tư các dự án. So với nguồn vốn trong nước, nguồn vốn nước ngoài có ưu thế là bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, từ đó thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; là cầu nối quan trọng giữa kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thế giới, thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh, đổi mới phương thức quản trị doanh nghiệp cũng như phương thức kinh doanh; nhiều nguồn lực trong nước như lao động, đất đai, lợi thế địa kinh tế, tài nguyên được khai thác và sử dụng có hiệu quả hơn. Tuy vậy, trong nó lại luôn chứa ẩn những nhân tố tiềm tàng gây bất lợi cho nền kinh tế, đó là sự lệ thuộc, nguy cơ khủng hoảng nợ, sự tháo chạy đầu tư, sự gia tăng tiêu dùng và giảm tiết kiệm trong nước… Như vậy, vấn đề thu hút vốn nước ngoài đặt ra những thử thách không nhỏ trong chính sách thu hút đầu tư của nền kinh tế đang chuyển đổi; đó là, một mặt phải ra sức huy động vốn nước ngoài để đáp ứng tối đa nhu cầu vốn cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; mặt khác, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 phải kiểm soát chặt chẽ sự di chuyển của dòng vốn nước ngoài để ngăn chặn khủng hoảng tài chính. Để vượt qua những thử thách đó, đòi hỏi nhà nước phải tạo lập môi trường đầu tư thuận lợi cho sự vận động của dòng vốn này, điều chỉnh và lựa chọn các hình thức thu hút đầu tư sao cho dòng vốn này đầu tư dài hạn trong nước một cách bền vững để có lợi cho nền kinh tế.
Về bản chất, vốn đầu tư nước ngoài cũng được hình thành từ tiết kiệm của các chủ thể kinh tế nước ngoài và được đầu tư thông qua 02 hình thức cơ bản đó là: đầu tư trực tiếp (FDI) và đầu tư gián tiếp (FPI). Vốn FDI Là nguồn vốn do các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào các dự án sản xuất, kinh doanh và dịch vụ trong nước nhằm mục đích thu lợi nhuận và tham gia quản lý các dự án đó. Đây là một nguồn vốn lớn, có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển. Nguồn vốn này đang phổ biến ở nhiều nước đang phát triển khi mà các luồng dịch chuyển vốn từ các nước phát triển đi tìm cơ hội đầu tư ở nước ngoài để gia tăng thu nhập trên cơ sở khai thác lợi thế so sánh giữa các quốc gia.
Ở nước ta, các hình thức vốn FDI được thực hiện bởi các doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, hợp đồng hợp tác kinh doanh dưới các hình thức BOT, BTO, BT,. FDI không chỉ đơn thuần đưa ngoại tệ vào nước sở tại để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, mà còn kèm theo chuyển giao công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến và khả năng tiếp cận thị trường thế giới, giải quyết việc làm… Vì vậy, việc tiếp nhận nguồn FDI đặt ra cho các nước tiếp nhận là phải khai thác triệt để các lợi thế có được của nguồn vốn này nhằm đạt được sự phát triển tổng thể cao về kinh tế. Tuy nhiên, bên cạnh lợi thế của nguồn vốn FDI cũng có những mặt trái của nó. Về thực chất vốn FDI là một khoản nợ, trước sau nó vẫn không thuộc TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 quyền sở hữu và chi phối của nước sở tại.
Đồng thời, các nước nhận đầu tư còn phải gánh chịu nhiều thiệt thòi do phải áp dụng một số ưu đãi (như ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, giá thuê đất, vị trí doanh nghiệp, quyền khai thác tài nguyên…) cho các nhà đầu tư hay giá trị công nghệ chuyển giao bị các nhà đầu tư nước ngoài tính giá cao hơn mặt bằng quốc tế… Vốn FPI Là hình thức đầu tư gián tiếp xuyên biên giới. Nó chỉ các hoạt động mua tài sản tài chính nước ngoài nhằm kiếm lời. Hình thức đầu tư này không kèm theo việc tham gia vào hoạt động quản lý của doanh nghiệp giống như trong hình thức FDI.