CHƯƠNG 1 MỌT SO VAN ĐE PHAP LY TRONG THỤC HIẸN PHAP LUẠT VE THƯ HÒI ĐÁT NÔNG NGHIỆP 1. Khái niệm, vai trò của thực hiện pháp luật vê thu hôi đât nông nghiệp 1. Khái niệm đất nông nghiệp Theo Luật đất đai năm 2013, Ở Việt Nam đất đai được chia làm nhiều loại căn cứ theo mục đích sử dụng như: đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp, đất chưa sử dụng. Đất nông nghiệp (ĐNN) là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các văn bản pháp luật đất đai ở nước ta.
Theo cách hiểu truyền thống của người Việt Nam, đất nông nghiệp thường được coi là đất trồng lúa, trồng cây hoa màu như ngô, khoai, sắn và những loại cây được coi là lương thực. Tuy nhiên, trên thực tế việc sử dụng đất nông nghiệp khá phong phú, không chỉ đơn thuần là trồng lúa, hoa màu mà còn được sử dụng để trồng các loại cây lâu năm hay dùng vào mục đích chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản,. Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp): “ĐNN: Tổng thể các loại đất được xác định là tư liệu sản xuất chủ yếu phục vụ cho việc trồng trọt và chăn nuôi, nghiên cứu thí nghiệm về trồng trọt và chăn nuôi, bảo vệ môi trường sinh thái, cung ứng sản phẩm cho các ngành công nghiệp và dịch vụ” [39]. Đi sâu nghiên cún Luật đất đai qua các thời kỳ cho thấy khái niệm đất nông nghiệp từng bước được quy định trong Luật đất đai năm 1993, năm 2003 và năm 2013.
Theo Điều 42, Luật Đất đai(LĐĐ) năm 1993 quy định về ĐNN như sau: “ĐNN là đất được xác định chủ yếu để sừ dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp”. Với quy định của LĐĐ năm 1993, đất đai ở Việt Nam được chia làm 6 loại: ĐNN, đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng, đất đô thị, đất khu dân cư nông thôn và đất chưa sử dụng, căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu của các loại đất. Theo sự phân loại này, ĐNN, đất lâm nghiệp được tách riêng thành hai loại đất trong số sáu loại đất 8 thuộc vôn đât quôc gia và được định nghĩa theo Điêu 42 và Điêu 43 của LĐĐ năm 1993. Với quy định về ĐNN trong LĐĐ năm 1993, ở nước ta quan niệm ĐNN dựa vào tiêu chí mục đích sử dụng chủ yếu (mục đích chính, mục đích cơ bản nhất do Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai xác định và được ghi rõ trong quyết định giao đất, cho thuê đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền).
LĐĐ năm 2003 ra đời, không đề cập cụ thể về khái niệm ĐNN mà chỉ đưa ra thuật ngữ “Nhóm ĐNN”. Đất đai được chia làm ba loại căn cứ vào mục đích sử dụng của đất, cụ thề là chia theo ba phân nhóm: nhóm ĐNN, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng. Theo đó, nhóm ĐNN bao gồm các loạt đất cụ thể sau: (i) Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa, đất đồng cở dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác; (ii) Đất trồng cây lâu năm; (iii) Đất rừng sản xuất; (iv) Đất rừng phòng hộ; (v) Đất rừng đặc dụng; (vi) Đất nuôi trồng thủy sản; (vii) Đất làm muối; (viii) ĐNN khác theo quy định cũa Chính phủ. Như vậy, theo quy định của LĐĐ năm 2003, đã mở rộng khái niệm ĐNN, với tên gọi “nhóm đất nông nghiệp” thay cho “đất nông nghiệp” và như vậy, trong nhóm ĐNN sẽ bao gồm nhiều loại đất (trong đó có đất lâm nghiệp theo quy định LĐĐ năm 1993 trước đây).
Theo quy định của LĐĐ năm 2013 thì ĐNN được hiểu là loại đất giao cho người dân sử dụng để phục vụ cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp, bao gồm các loại đất có đặc thù giống nhau là tư liệu sản xuất chính cho các mục đích như trồng trọt, chăn nuôi, trồng rừng. ĐNN là tư liệu sản xuất chủ yếu vừa là tư liệu lao động vừa là đối tượng lao động, và đặc biệt không thể thay thế được cùa ngành nông- lâm nghiệp, là tiền đề của mọi quá trình sản xuất. ĐNN tham gia vào các ngành sản xuất lương thực, thực phẩm như ngành thủy sản, ngành trồng trọt, chăn nuôi.Kế thừa những quy định của LĐĐ năm 2003, LĐĐ 2013 cũng căn cứ vào mục đích sử dụng đất thì ĐNN được chia thành nhiều loại đất khác nhau bao gồm: Thứ nhất, ĐNN trồng cây hàng năm: là loại đất dùng để trồng các loại cây có thời gian sinh trưởng và thu hoạch với thời gian rất ngắn như các loại cây hoa màu, cây trồng lúa. Thứ hai, ĐNN dùng cho chăn nuôi: là loại đất nông nghiệp có mục đích chú 9 yếu cho chăn nuôi với mục đích nuôi gia súc, gia cầm vv.
ví dụ như đất chuyên trồng cở tự nhiên làm thức ăn cho chăn nuôi. Thứ ba, đất trồng cây lâu năm: là đất trồng các loại cây có thời gian sinh trưởng trên một năm. Thời gian sinh trưởng của cây từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch cỏ thời gian lâu hơn các loại cây trồng trên đất hàng năm. Thứ tư, đất rừng sản xuất: Theo quy định của pháp luật đất đai, đất rừng sản xuất là một trong những bộ phận ĐNN rất quan trọng, là rùng tự nhiên nhưng được Nhà nước giao đất này cho các tồ chức nhằm mục đích quản lý bảo vệ và phát triền rùng.
Thứ năm, đất rừng phòng hộ: là đất được sử dụng nhàm mục đích đế bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, là một phần để giúp chống xói mòn, hạn chế thiên tai, có tác dụng làm cân bằng môi trường sinh thái và điều hòa khí hậu. Thứ sáu, đất rừng đặc dụng: được thành lập với mục đích chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, cân bằng hệ sinh thái rừng của quốc gia, ngoài ra đề nhằm nhừng mục đích phục vụ nghiên cứu khoa học, kết hợp phát triển kinh tế như danh lam thắng cảnh khu vui chơi nghỉ ngơi giải trí hay được xem là di tích lịch sử cần được bảo vệ. Thứ bảy, đất nuôi trồng thủy sản và đất làm muối: là đất để nuôi trồng thuỷ sản, thường là những phần đất nội địa bao gồm ao, hồ, sông, ngòi. những phần đất có mặt nước bao gồm cả trang trại được giao để nhằm mục đích nuôi trồng và phát triển về ngành thủy sản.
Thứ tám, đất làm muối được xác định là phần diện tích đất trong quy hoạch để sản xuất muối được cấp có thẩm quyền phê duyệt, làm muối để phục vụ đời sống và công nghiệp. Thứ chín, ĐNN khác: gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi được cơ quan có thẩm quyền cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống phục vụ nông nghiệp. Có thể thấy, so với LĐĐ năm 1993, sự phân loại đất nông nghiệp theo LĐĐ 2003, LĐĐ 2013 có phạm vi rộng hơn, bao gồm nhiều loại đất để khai thác và sử 10 dụng trong lĩnh vực nông nghiệp. Sự phân loại này có sự đan xen giữa loại đất nông nghiệp, đât lâm nghiệp (trước đây), đât nuôi trông thuỷ sản và làm muôi là phù hợp.
r r < Một mặt, chúng đảm bảo sự quản lí tập trung, thông nhât trong quản lí đât đai của Nhà nước, giúp cho các cơ quan quản lý đất đai ờ địa phương dễ dàng, thuận lợi hơn trong việc theo dõi, kiểm tra, giám sát quá trình khai thác, sử dụng đất của các hộ gia đình, cá nhân. Mặt khác, xét từ thực tê sử dụng đât của các hộ gia đình, cá nhân từ xa xưa đến nay, trong mỗi hộ gia đình, cá nhân thì họ thường không sử dụng thuần túy một loại đất riêng rẽ như: đất trồng lúa, trồng màu, mà đó là sự đan xen của việc khai thác và sử dụng kết hợp của nhiều loại đất khác nhau như đất: trồng lúa, trồng màu, trồng cây ăn quả, đất nuôi trồng thuỷ sản hoặc kết hợp với trồng rừng sản xuất, đất làm muối. Việc kết họp sử dụng nhiều loại đất như vậy, là một nhu cầu tất yếu khách quan của mỗi hộ gia đình muốn nâng cao năng lực sản xuất, tận dụng quỹ đất để khai thác có hiệu quả đất đai, có điều kiện để mở rộng sản xuất và ứng dụng khoa học kỹ thuật, đầu tư vốn thuận lợi, dễ dàng. Đây cũng là sự phù họp với chủ trương mà Đảng và Nhà nước ta đang khưyến khích sản xuất nông nghiệp theo mô hình nông trang trại, kết họp nông - lâm - ngư - diêm đối với hộ nông dân.
Vì vậy, phân loại ĐNN theo pháp luật 2013 là một sự hợp lí, vừa thuận lợi cho việc quản lí, vừa phù họp với thực tế sử dụng đất của các hộ nông dân, vừa khuyến khích để phát triển nông nghiệp theo xu hướng của nền sản xuất hàng hoá. Từ những điều phân tích trên, có thế đưa ra khái niệm về ĐNN như sau: Đất nông nghiệp bao gồm tông thê các loại đất, có đặc tỉnh sử dụng giống nhau, với tư cách là tư liệu sản xuất chủ yếu phục vụ cho mục đích sản xuất nông nghiệp, lảm nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trỏng thủy sản, trồng rừng; khoanh nuôi tu bố, bảo vệ rừng; bảo vệ môi trường sinh thái; nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp. Việc quan niệm ĐNN ờ phạm vi rộng như trên là cần thiết và phù họp với thực tế khai thác và sử dụng của các tố chức, hộ gia đình, cá nhân. Điều đó càng có ý nghĩa hơn trong thực tế khi xác định đất bị thu hồi là loại đất nào trong nhóm đất nông nghiệp để làm cơ sở cho việc xác định cách thức và mức bồi thường.
Chẳng 11 hạn, nêu đât thu hôi của hộ gia đình, cá nhân là đât canh tác trông lúa nước, là nguồn sống trực tiếp cùa bà con nông dân thì bên cạnh việc xác định trách nhiệm bồi thường về đất, Nhà nước còn phải tính đến việc hồ trợ cho người nông dân như: chính sách hỗ trợ để ổn định đời sống, chính sách đào tạo nghề, bố trí việc làm và giải quyết các chính sách an sinh xã hội khác cho bà con nông dân; hoặc, nếu đất bị thu hồi là đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất có nguồn gốc được Nhà nước giao đất không thu tiền hoặc có thu tiền nhưng tiền đã trả có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước.