Chương 1 NHŨNG VẪN ĐÈ LÝ LUẬN VỀ THÔNG TIN SẢN PHẨM TRONG LĨNH VỤC THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỦ' 1. Khái niệm, đặc điếm thương mại điện tử và thông tin sản phẩm trong lĩnh vực thương mại điện tử • O • • 1. Khái niệm thương mại điện tử • ơ • ♦ Thương mại là hành vi đặc thù của con người trong quá trình phát triển xã hội, văn minh nhân loại. Các hành vi thương mại tồn tại qua suốt các thời kỳ lịch sử với nhiều hình thức cũng như nội hàm cũa chính nó thay đổi theo để phù hợp tiến trình phát triển cũng như nhận thức của con người về thương mại.
Giao dịch thương mại và các yếu tố ảnh hưởng đến giao dịch thương mại vô cùng đa dạng bởi chính sự hiểu biết của con người trong bối cảnh của xã hội đương thời, nhất là trong thế kỷ XXI, thời kỳ bùng nổ công nghệ thông tin, một mô thức giao dịch thương mại vô cùng thuận tiện ngày càng được phổ biến rộng khắp và hon hết, được đón nhận như một sự tất yếu của sự phát triển thương mại của cả thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng đó là TMĐT. Hành vi thương mại theo như pháp luật của Pháp [45] [56] theo bản chất được phân định thành hai loại: Thứ nhất, các hành vi được coi là hành vi thương mại ngay cả khi chúng được thực hiện một cách riêng rẽ; Thứ hai các hành vi chỉ được coi là hành vi thương mại trong trường hợp do thương nhân thực hiện. Các hành vi thương mại hình thức là các hành vi được coi là hành vi thương mại ngay cả khi chúng được những người không phải là thương nhân thực hiện. Các hành vi thương mại phụ thuộc là các hành vi phụ thuộc vào hoạt động thương mại hoặc các thương gia như các trái vụ giữa các thương nhân với nhau [45] [56] Có thể thấy, hành vi thương mại được nhận diện từ hai phương diện: đầu tiền, do bản chất của hành vi đó với mục đích sinh lời; thứ hai, do chủ thể tiến hành hành vi đó là thương nhân.
Nhưng TMĐT lại có 10 những đặc thù riêng bởi nó găn các hành vi thương mại truyên thông với phương thức giao dịch mới: “điện tử”. Dưới góc nhìn công nghệ,l TMĐT là loại hình thương mại mới xuât hiện cuối thế kỷ XX và phát triển ngày càng mạnh mẽ cho đến nay. Sự lý giải về hình thức giao dịch của TMĐT đều gắn liền các hành vi thương mại truyền thống với phương thức giao dịch mới xuất hiện là “điện tử” và điều này tạo nên các thách thức mới phi truyền thống kill mà thuật ngữ “điện tử” vẫn còn tin (CNTT) vào trong hoạt động thương mại chính là sự khác biệt giữa thương mại truyền thống và TMĐT. Có lẽ chính vì thế mà sự phát triển cùa CNTT sẽ thúc đẩy TMĐT phát triển nhanh chóng, ngược lại, sự phát triển của TMĐT cũng thúc đẩy và gợi mở nhiều lĩnh vực của CNTT và truyền thông (1CT- Information and Communication Technology) như phần cứng và phần mềm chuyên cho các ứng dụng TMĐT, dịch vụ thanh toán cho TMĐT v.nhưng điều này lại có thề dẫn đến sự trì trệ trong hoạt động thương mại kill mà bộ máy quản lý hành chính vốn được thiết lập để tạo nên sự ổn định có thể không bắt kịp với sự biển đổi của công nghệ thông tin trong thời đại 4.
Dưóí góc nhìn kinh tê, TMĐT là quá trình mua, bán, trao đôi hàng hóa, dịch vụ và thông tin thông qua mạng máy tính, bao gôm mạng Internet. Theo nghĩa hẹp, TMĐT đơn giản chỉ là việc tiên hành các hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử và mạng viên thông. Phương tiện điện tử và mạng viễn thông sử dụng phổ biến trong TMĐT là điện thoại, ti vi, máy fax, mạng truyên hình, mạng internet, mạng intranet, mạng extranet. trong đó máy tính và mạng internet cùng các thiêt bị thông minh đi động là được sử dụng nhiều nhất để tiến hành các hoạt động TMĐT vì nó có khả nàng tự động hóa cao các giao dịch.
Theo nghĩa rộng, TMĐT không chỉ dừng lại ở việc mua bán hàng hóa và dịch vụ, mà nó còn mở rộng ra cả về quy mô và lĩnh vực ứng dụng. Xuất phát từ thực tiễn nảy sinh trong quá trình NTD tìm kiếm thông tin sản phẩm trên các trang TMĐT mà các nhà lập pháp đã đặt ra các khái niệm về TMĐT chung nhất đề đáp ứng yêu cầu chất lượng sản phẩm đến tay NTD. Tổ chức Thương mại thế giới WTO cho rằng: “TMĐT là một lĩnh vực thương mại mới liên quan đến thiết lập giao dịch điện tử hàng hóa xuyên biên giới. Hiệp hội TMĐT (AEC - Association for Electronic Commerce), và một số tổ chức khác như Hội nghị Liên Họp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD-United Nation Conference on Trade and Development) cho rằng: - Dưói góc độ doanh nghiệp, TMĐT bao gồm các hoạt động của doanh nghiệp, theo chiều ngang: “TMĐT là việc thực hiện toàn bộ hoạt động kỉnh doanh bao gồm tiếp thị (quảng cảo chào hàng - marketing), bản hàng, phân phối và thanh toán thông qua các phương tiện điện tử”.
Khái niệm này đã đề cập đến toàn bộ hoạt động kinh doanh, chứ không chỉ giới hạn ở riêng mua và bán, toàn bộ các hoạt động kinh doanh này được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử. Khái niệm này được viết tắt bởi bốn chữ Tiếp thị - Bán hàng - Phân phối - Thanh toán (MSDP)[60], trong đó: o M - Marketing (có web, hoặc xúc tiến thương mại qua internet) o s - Sales (có web, có hỗ trợ chức năng giao dịch, ký kết họp đồng) o D - Distribution (Phân phối sản phẩm số hóa qua mạng) o p - Payment (Thanh toán qua mạng hoặc thông qua ngân hàng) Như vậy, đối với doanh nghiệp, khi sử dụng các phương tiện điện tử và mạng viễn thông (internet) vào trong các hoạt động kinh doanh cơ bản như marketing, bán hàng, phân phối, thanh toán thì được coi là tham gia TMĐT. 12 - Dưới góc độ quản lý nhà nước, TMĐT bao gôm các lĩnh vực Cơ sở hạ tầng; Thông điệp dữ liệu; Các quy tắc cơ bản; Các quy tác riêng; Điều chỉnh từng lĩnh vực chuyên sâu; Các ứng dụng TMĐT (ĨMBSA)[68]: o 1 - Infrastructure: Cơ sở hạ tầng “Công nghệ thông tin” và truyền thông là yêu cầu đầu tiên để phát triển TMĐT. o M - Message: Liên quan đến “thông điệp dữ liệu”.
Thông điệp chính là tất cả các loại thông tin được truyền tải qua mạng trong TMĐT. Ví dụ như hợp đồng điện tử, chào hàng, hởi hàng qua mạng, chứng từ thanh toán điện tử. đều được coi là thông điệp, chính xác hơn là “thông điệp dữ liệu”. o B - Basic Rules: Các quy tắc cơ bản điều chỉnh chung về TMĐT: chính là các luật điều chinh các lĩnh vực liên quan đến TMĐT trong một nước hoặc khu vực và quốc tế như các quy định về thương mại của WTO, quy định về sở hữu trí tuệ của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới WIPO.
o s - Sectorial Rules/ Specific Rules: Các quy tắc riêng, điều chỉnh từng lĩnh vực chuyên sâu của TMĐT như: chúng thực điện tử, chữ ký điện tử, Ngân hàng điện tử (thanh toán điện tử). o A - Applications: Được hiểu là các ứng dụng TMĐT, hay các mồ hình kinh doanh TMĐT Cần được điều chỉnh, cũng như đầu tư, khuyến khích để phát triển, trên cơ sở đã giải quyết được 4 vấn đề trên. Như vậy, tác giả cho rằng TMĐT là việc tiến hành hoạt động thương mại kinh doanh hàng hóa hoặc/và cung Cấp dịch vụ giữa các bên trong quan hệ giao dịch thông qua các phương tiện điện tử như mảy tỉnh, ứng dụng điện thoại, v. Các phương tiện điện tử này phát triển cùng với tiến bộ của CNTT cả trong lĩnh vực phần cứng và phần mềm chuyên dụng, trong đó máy tính và cùng các thiết bị thông minh đi động có kết nối mạng internet tại thời điểm hiện tại được sử dụng nhiều nhất đê tiến hành các hoạt động TMĐT.
Đặc điêm của TMĐT TMĐT với tư cách là một mô thức tiến hành hoạt động thương mại mới xuất hiện và phát triển sau kế thừa các đặc tính chung của các loại hình thương mại truyền thống khác như tự do ý chí, năng lực chủ thể v. Tuy nhiên, TMĐT lại có những đặc điểm khác biệt cơ bản do sự phát triển của TMĐT gắn liền và tác động qua lại với sự phát triển của CNTT và truyền thông (ICT). Trong hoạt động thương mại truyền thống, các bên trong giao dịch phải có sự liên hệ trực tiếp để tiến hành giao dịch và ký kết hợp đồng. Hình thức giao dịch vẫn tồn tại thông qua các yếu tố vật lý hiện hữu trên thực tế một cách trực tiếp trong khi đối với các giao dịch TMĐT, việc giao kết hợp đồng được tiến hành gián tiếp thông qua mạng viễn thông.
Theo hình thức giao dịch này, dữ liệu của một phần hoặc toàn bộ giao dịch xuất hiện dưới dạng điện tử và được ltru trữ trong các thiết bị lun trữ như ố cứng, máy chủ, v. Theo sự phát triến của công nghệ số, các phương tiện điện tử ngày càng được phố biến và mở rộng về ngoại diện, thêm vào đó là độ bao phủ của các mạng viễn thông và Internet mà giờ đây các bên tham gia vào giao dịch khồng phải gặp gỡ nhau trực tiếp mà vẫn có thể thực hiện được các giao dịch và lưu trữ thông tin giờ đây có thể được số hóa và đưa vào lưu tại các kho lưu trữ mềm điện toán đám mây. Phạm vi hoạt động cùa thị trường trong TMĐT là thị trường phi biên giới. Thông qua Internet, mọi người ở tất cả các quốc gia trên khắp toàn cầu không phải di chuyển tới bất kì địa điểm nào mà vẫn có thể tham gia vào giao dịch, TMĐT xuất hiện khiến cho chủ nghĩa cô lập, chủ nghĩa bảo hộ trở nên yếu thế so với sự xuất hiện ngày càng mạnh mẽ của toàn cầu hóa.
Các khái niệm về biên giới giữa các quốc gia, thị trường, dân tộc, văn hóa, tín ngưỡng trở nên lu mờ với sự xuất hiện của một thị trường mới, duy nhất và không chia tách. Sự hiện hữu của nó, ngay cả khi mới trên ý tưởng: toàn cầu hóa, đã khiến 14 cho các thực thê, thê chê kinh tê, chính trị trên khăp thê giới phải xem TMĐT không còn là một hình thức thương mại đơn thuần nừa mà còn là một lình vực mới về cả kinh tế, chính trị lẫn luật pháp. Trong hoạt động TMĐT phải có tối thiểu ba chủ thể tham gia.