CHƯƠNG 1 Thông tin bất cân xứng là mức độ thông tin không phản ánh kịp thời, chính xác, đầy đủ về thị trường và diễn biến của nó. Thông tin bất cân xứng được đo lường dựa vào mức độ hiệu quả của thị trường. Thông tin bất cân xứng tạo ra những kỳ vọng giá cả khác nhau đối với từng cá nhân và tổ chức, dẫn đến kém hiệu quả về mặt kinh tế và xã hội, làm tăng chi phí ẩn, gây thất bại thị trường. Các công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trường có mục tiêu tối đa hóa giá trị tài sản cổ đông.
Mục tiêu này gắn liền với quyết định đầu tư, quyết định tài trợ và quyết định phân phối của công ty. Thông tin đóng vai trò quan trọng trong việc ra các quyết định tài chính một cách hiệu quả. Thông tin bất cân xứng gây nên rủi ro cho các quyết định tài chính của công ty cổ phần. Quyết định đầu tư kém tin chắc, quyết định tài trợ ít linh hoạt khiến chi phí vốn tăng, quyết định phân phối bị đánh giá sai, đó là những rủi ro mà công ty cổ phần phải gánh chịu trong thị trường với thông tin bất cân xứng.
Vấn đề thông tin bất cân xứng gây nên rủi ro cho các quyết định tài chính của công ty cổ phần hoàn toàn có thể khắc phục được thông qua việc tăng cường kiểm soát thông tin trong nội bộ và bên ngoài doanh nghiệp, chuẩn hóa quy trình ra quyết định tài chính, phát tín hiệu ra thị trường, bảo hiểm rủi ro và lập phương án dự phòng khả năng xấu. 15 CHƯƠNG 2: THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG VÀ CÁC QUYẾT ĐỊNH TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN Ở NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN QUA 2. THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG Ở NƯỚC TA 2. Tổng quan tình hình kinh tế Việt Nam Những năm qua, mặc dù phải đương đầu với nhiều khó khăn, thách thức do trình độ phát triển kinh tế còn thấp, ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh và những biến động của kinh tế thế giới, song nền kinh tế Việt Nam đã đạt những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế – xã hội tương đối toàn diện, trở thành nền kinh tế mới đang “nổi lên” ở châu Á.
Tăng trưởng kinh tế GDP liên tục đạt mức khá cao, ước trung bình hơn 7,5% trong giai đoạn 2001-2006, riêng năm 2005 đạt 8,4%, 9 tháng đầu năm 2006 đạt 8,2%; thu nhập bình quân đầu người năm 2005 đạt 650 USD; Việt Nam được APEC đánh giá là quốc gia có tốc độ tăng trưởng GDP và độ công bằng xã hội tốt nhất năm 2006; xuất nhập khẩu tăng, tích lũy cao, lạm phát kiểm soát được, thu ngân sách vượt kế hoạch, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, Quốc hội đã ban hành nhiều đạo luật quan trọng, hệ thống bảo vệ pháp luật hoạt động tích cực. Đảng và Nhà nước đã tập trung sức cho phát triển kinh tế – xã hội, cụ thể là phát triển vùng kinh tế, khu công nghiệp; chăm lo xóa đói giảm nghèo, lao động và việc làm, giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khỏe nhân dân, xây dựng đời sống văn hóa mới… Dịch vụ bưu chính viễn thông và thông tin liên lạc tăng trưởng nhanh. Năm 2005 có gần 3,5 triệu thuê bao điện thoại mới, nâng tổng số thuê bao điện thoại đạt hơn 22 triệu máy. Theo thống kê của VNNIC về internet, đến tháng 7/2006, Việt Nam có 3.562 thuê bao qui đổi, số người sử dụng internet là 13.667 chiếm 16,14% dân số, số tên miền là 21.481, số địa chỉ IP là 764.
Sắp tới đây, các tập đoàn viễn thông quốc tế sẽ đầu tư vào thị trường nước ta tạo nên bước nhảy vọt về công nghệ và dịch vụ viễn thông. 16 Kết quả nghiên cứu đầy đủ Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh về môi trường kinh doanh năm 2005 dựa trên 16.200 doanh nghiệp nhỏ và vừa ở 42 tỉnh thành phố được Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và Ban quản lý Dự án Nâng cao năng lực cạnh tranh công bố ngày 13/1/2006. Chỉ số năng lực cạnh tranh bao gồm 9 chỉ số thành phần: Chi phí gia nhập thị trường, tiếp cận đất đai, tính minh bạch và tiếp cận thông tin, chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước, các chi phí không chính thức, công tác thực hiện chính sách của Trung ương, ưu đãi đối với doanh nghiệp Nhà nước, tính năng động và tiên phong của lãnh đạo địa phương và chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân. Với thang điểm 100, nhóm dẫn đầu gồm 7 tỉnh là Bình Dương (76,8 điểm), Đà Nẵng (70,6), Vĩnh Long (68,6), Bến Tre (65,2), Vĩnh Phúc (65,1), Đồng Nai (64,1) và Quảng Ninh (62,9); nhóm xếp cuối gồm 7 tỉnh là Quảng Ngãi (48,0), Bình Phước (47,1), Nam Định (46,0), Hải Dương (45,8), Ninh Thuận (44,5), Ninh Bình (41,2) và Hà Tây (38,8).
Hà Nội và TPHCM. chỉ xếp ở vị trí 14 và 17 trên 42 tỉnh, với mức điểm lần lượt là 60,3 và 59,6. Kết quả nghiên cứu cũng cho biết mỗi một điểm cải thiện ở PCI tương đương với các mức tăng sau: 2,8% vốn đầu tư tính trên đầu người của khu vực tư nhân, 3,2 triệu đồng lợi nhuận trên mỗi doanh nghiệp, 2 doanh nghiệp/1.000 dân, 92 triệu đồng vốn đăng ký tại Sở Kế hoạch và Đầu tư trên 1.000 dân tính từ sau thời điểm Luật Doanh nghiệp có hiệu lực (trong số đó, vốn thực hiện sẽ là 52 triệu đồng) và 11 tô phở /người /năm. PCI là một ghi nhận về những nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư cấp tỉnh cũng như những hạn chế của từng địa phương.
Qua đó, các địa phương có thể biết được tình trạng môi trường đầu tư tỉnh nhà trong con mắt các doanh nghiệp và so sánh với các địa phương khác để có những động thái cải thiện môi trường đầu tư của tỉnh. Kết quả đánh giá bằng PCI cho thấy năng lực cạnh tranh các tỉnh nhìn chung chưa cao, một số tỉnh quá thấp. Khoảng cách giữa tỉnh dẫn đầu là Bình Dương và các tỉnh khác khá rộng nên có thể là thuận lợi cho các tỉnh khác học hỏi mô hình phát triển của tỉnh Bình Dương, nhưng nên có sự kết hợp với các tinh hoa chắt lọc từ những mô hình phát triển thành công trên thế giới như Thẩm Quyến, Hồng Kông, Đài Loan… PCI về kinh tế đã phản ánh được phần nào mức độ hiệu quả của thị trường song mang tính địa phương hóa nên còn chưa toát lên được những lợi thế cũng như điểm yếu của địa phương và cả nước. 17 Việt Nam nằm trong khu vực phát triển kinh tế năng động nhất thế giới, có môi trường hòa bình, ổn định, vị thế không ngừng được nâng cao.
Việt Nam đã mở rộng khuôn khổ và làm sâu sắc thêm quan hệ hữu nghị và hợp tác với tất cả các đối tác, nhất là các nước láng giềng khu vực và các nước lớn. Đặc biệt năm 2005, Việt Nam đã đóng góp tích cực vào các hoạt động ngoại giao đa phương tại các Hội nghị thượng đỉnh APEC 13, ASEAN 11, Đông Á lần thứ nhất, Á-Phi lần thứ 2, Sea Games 23, Paragames… Ngày 7/11/2006, Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO. Đây là sự kiện kinh tế quan trọng nhất trong giai đoạn từ đầu thiên niên kỷ đến nay. Việt Nam cũng tổ chức thành công rực rỡ APEC 14 và được đề cử là ứng cử viên châu Á duy nhất vào ghế thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ 2008 – 2009.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn, Việt Nam cũng thể hiện một số khó khăn. Tăng trưởng kinh tế chưa phản ánh đúng thực lực của nền kinh tế. Sức cạnh tranh của nền kinh tế còn yếu, mức độ công nghệ trong sản phẩm thấp. Vấn nạn tham nhũng đang đe dọa trầm trọng niềm tin của người dân và làm tha hóa bộ máy hành chính vẫn còn cồng kềnh.
Cải cách còn quá ì ạch nhất là chưa đạt đến quan điểm cơ chế quản lý nhất quán, thông thoáng. Những năm tới đây, Việt Nam sẽ nỗ lực thực hiện 4 chính sách lớn: xây dựng nền kinh tế thị trường, đẩy nhanh hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện dân chủ - công bằng xã hội và xây dựng bộ máy quản lý nhà nước hiệu lực với hiệu quả cao; thông qua việc tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, duy trì tốc độ tăng trưởng cao, đồng thời nâng cao chất lượng và hiệu quả tăng trưởng kinh tế, chấn chỉnh bộ máy hành chính, phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí, tập trung phát triển nguồn nhân lực, phát triển hoạt động nghiên cứu khoa học… 2. Nền kinh tế Việt Nam qua đánh giá quốc tế Ngày nay, các nền kinh tế có xu hướng phát triển hòa quyện vào nhau, vừa tiếp sức cho nhau song cũng cạnh tranh nhau khốc liệt. Do đó, những đánh giá quốc tế là cần thiết để các quốc gia hiểu rõ vị thế của mình trong tương quan quốc tế, biết 18 được điểm mạnh điểm yếu ngõ hầu có sự điều chỉnh chiến lược và chính sách phát triển phù hợp.
Các đánh giá quốc tế cũng là cơ sở tham khảo cực tốt gợi ý cho các nhà đầu tư, các chuyên gia kinh tế trong việc xây dựng chiến lược của mình. Về môi trường kinh doanh, Ngân Hàng Thế Giới đánh giá môi trường kinh doanh mà nhà đầu tư gặp phải khi làm ăn tại một nước theo 10 tiêu chí: Khởi sự doanh nghiệp, giải quyết giấy phép, thuê mướn nhân công, đăng ký tài sản, đi vay, bảo vệ nhà đầu tư, thuế khóa, buôn bán xuyên biên giới, thực hiện hợp đồng và đóng cửa doanh nghiệp. Báo cáo “Kinh doanh năm 2007: Cải cách như thế nào?” của WB tập trung khảo sát những thuận lợi và khó khăn của môi trường kinh doanh, đặc biệt nhấn mạnh đến các cải cách tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. Tính tổng thể, Việt Nam xếp hạng 104 trong 175 nền kinh tế được khảo sát năm 2006 và tụt 6 bậc so với năm 2005.
Chỉ có hai tiêu chí là thuê mướn lao động và giải quyết giấy phép tăng hạng. Điều này cho thấy mặc dù Việt Nam có sự phát triển đáng kể nhưng so với mức phát triển chung của thế giới thì là chậm hơn và bị tụt hậu. Điểm yếu của Việt Nam là ở thủ tục hành chính còn nhùng nhằng và ở khâu thực hiện các chính sách vĩ mô chưa tốt. Ở Đông Nam Á, môi trường kinh doanh của Việt Nam kém xa so với Singapore (hạng 1), Thái Lan (18) và Malaysia (25) song tốt hơn so với Philippines (126), Indonesia (135), Campuchia (143) và Lào (159).