chương I “Sự hình thành hợp đồng” của tiêu đề “hợp đồng” thể hiện quan điểm của những nhà làm luật Thái Lan khá tương đồng với những nhà lập pháp theo hệ thống Common Law khi cho rang hợp đồng trước tiên được hình thành do lời đề nghị giao kết, sau đó nó sẽ được chính thức trở thành hợp đồng khi lời đề nghị đó được chấp nhận (phải thỏa mãn một số điều kiện như: thời hạn trả lời, điều kiện về sự thiện chí, không dối trá,. Giống như các nước xã hội chủ nghĩa khác, pháp luật dân sự của Việt Nam chủ yếu chịu ảnh hưởng của luật La Mã và thừa hưởng nhiều thành tựu của hệ thống pháp luật Civil Law. Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, trong khoảng 10 năm, pháp luật dân sự vẫn ở vào tình trạng kém phát triển. Phải đến cuối những năm 80 của thế ki XX thì việc ban hành các văn bản pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh mới trở nên đa dạng vì được quan tâm và thúc bách.
Rất nhiều văn bản pháp luật về dân sự được ban hành trong thời kỳ này nhưng đến năm 1991, Việt Nam mới ban hành Pháp lệnh về Hợp đồng dân sự. Pháp lệnh đã đưa ra khái niệm hợp đồng dân sự một cách khá chi tiết tại điều 1 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về xác lập, thay đôi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê, vay, mượn, tặng, cho tài sán, làm một việc hay không làm một việc, dịch vụ hoặc các thỏa thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng.” Đến BLDS năm 1995, các nhà làm luật đã định nghĩa lại một cách khái quát và toàn diện hơn tại điều 394 BLDS năm 1995: “Hợp đồng là sự thỏa 16 thuận giữa các bên vê sự xác lập, thay đôi hoặc châm dứt quyên, nghĩa vụ dân sự." Sau đó, BLDS năm 2005 đã giữ nguyên khái niệm này. Khái niệm hợp đồng theo BLDS năm 2005 đã nêu lên những yếu tố cơ bản nhất của hợp đồng: Bản chất pháp lý cùa hợp đồng, chù thể cùa hợp đồng và mục đích của hợp đồng. Bán chất của hợp đồng cũng như các quan điểm của các nước khác trên thế giới vẫn là sự thỏa thuận giữa các bên tham gia giao kết; chủ thể của hợp đồng phải có từ hai bên trở lên; về mục đích của hợp đồng, quy định khá rộng khi mục đích của sự thỏa thuận là nhằm xác lập, thay đối hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự, quy định này thể hiện tính bao quát của pháp luật dân sự.
Bởi vì, tại Điều 1 Pháp lệnh Họp đồng Dân sự năm 1991, phạm vi hợp đồng dân sự lại giới hạn trong việc đáp ủng “nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng”. Bản chất và ý nghĩa pháp lý của Hợp đồng Hợp đồng là căn cứ phổ biến, dạng giao dịch phổ biến trong các quan hệ xã hội, rất đa dạng, phong phú và được thể hiện dưới các hình thức khác nhau, có thể bàng lời nói, bằng hành vi hoặc bằng văn bản. Thông qua thống nhất ý chí hay thỏa thuận hay giao kết họp đồng, các bên mong muốn đạt được mục đích như đã thống nhất ý chí, thỏa thuận hay đã giao kết. Hợp đồng cũng góp phần nâng cao sự phát triến kinh tế, văn hóa và xã hội, chi phối sâu rộng lên mọi mặt của đời sống xã hội.
Vì vậy đòi hỏi pháp luật có sự quan tâm và quản lý hợp lý, đủng mức của các cơ quan nhà nước liên quan đến 17 quan hệ hợp đông. Nhà nước ban hành ra luật đê hô trợ và điêu chỉnh quan hệ hợp đồng làm sao vừa đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong giao kết và thực hiện hợp đồng và vừa có tác dụng thúc đẩy, tạo điều kiện phát triến kinh tế, xã hội của đất nước theo định hướng đã dược Đảng đề ra như phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế, công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Trong khoa học pháp luật, hành vi pháp lý là một sự thể hiện ý chí nhằm làm phát sinh ra một hậu quả pháp lý, có nghĩa là làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt một quyền lợi. 16] Hành vi pháp lý bao gồm hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương.
Hợp đồng có bản chất là sự thống nhất của các ý chí nhằm làm phát sinh hậu quả pháp luật. Còn hành vi pháp lý đơn phương là việc thế hiện ý chí của chỉ một người nhằm làm phát sinh hậu quả pháp luật. Đây là các căn cứ rất quan trọng để lập ra các quan hệ pháp luật. Trong thực tiễn đời sống xã hội, mỗi bên trong quan hệ hợp đồng muốn theo đuổi những lợi ích nhất định của riêng họ.
Do đó họp đồng là kết quà của sự dung hòa các lợi ích ngược nhau giữa họ với nhau.[12] Để có được lợi ích họ muốn đó, các bên họ buộc phải có sự thỏa thuận. Hợp đồng là sự thống nhất ý chí để sinh một hệ quả pháp luật đặc biệt. Hệ quả đó là hệ quả quan hệ nghĩa vụ mà trong đó có hai loại chủ thể khác nhau là người có quyền yêu cầu và người có nghĩa vụ thực hiện quyền yêu cầu này. Trong quan hệ này người có nghĩa vụ phải thi hành nghĩa vụ của họ vì lợi ích cùa người có quyền yêu cầu khi học yêu cầu.
Người có quyền yêu cầu có quyền được thỏa mãn quyền yêu cầu của mình do đòi hởi người có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ của họ vì lợi ích của người có quyền yêu cầu. Thi hành nghĩa vụ bị cưỡng chế bằng pháp luật. Từ đỏ chúng ta phải thấy, hợp đồng có hai vấn đề pháp luật cơ bản: Một là, họp đồng là sự thống nhất của hai ý chí tách rời nhau; /?«/ là, sự thống 18 nhât ý chí đó phải có giá trị pháp luật, nghĩa là thông nhât phải thực hiện đủ các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng được pháp luật quy định. Nội dung và hình thức pháp lý của thống nhất ý chí 1.
Chủ thể của thống nhất ý chí Gọi là sự thống nhất khi có hai người trở lên đều có mục đích trao đồi để ý cbhis của các bên gặp gỡ nhau. Sự gặp gỡ này như trên đã làm rõ là các chủ thể của các ý chí cùng mong muốn ràng buộc nhau vào một quan hệ hợp đồng có các quyền và nghĩa vụ dân sự như họ muốn. Một người không thể có thống nhất ý chí. Do đó cần phải xem chủ thể có đủ điều kiện để thống nhất ý chí không.
Theo qui định chung cùa pháp luật, cá nhân và pháp nhân là những chủ thể của pháp luật và là chủ thể của thống nhất ý chí. Ngoài ra còn nhiều chủ thể khác mà pháp luật qui định, đồng thời pháp luật xác định điều kiện để họ tham gia vào các giao dịch, nghĩa là thống nhất ý chí giao kết hợp đồng. BLDS năm 2015 qui định ở Điều 19: “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự'. Qui định này cho phép cá nhân có đù năng lực hành vi dân sự được tham gia thống nhất ý chí giao kết hợp đồng.
BLDS năm 2015 ở Điều 20 qui định người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có quyền tham gia vào mọi giao dịch dân sự, trừ khi bị mất năng lực hành vi dân sự, khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Những người dưới 18 tuối được phép tham gia hạn chế vào việc thống nhất ý chí giao kết hợp đồng theo Điều 21, BLDS năm 2015 như sau: “1. Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi. Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện.
Người từ đủ sáu tuôi đên chưa đủ mười lăm tuôi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuối tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý”. Ớ nước ngoài, pháp luật dân sự cũng có những qui định rõ ràng về độ tuổi được phép tham gia vào thống nhất ý chí giao kết hợp đồng. Lấy ví dụ: BLDS của Pháp ở Điều 1108 quy định các điều kiện để hợp đồng có hiệu lực, trong đó các bên giao kết phải có đầy đù năng lực hành vi dân sự.
Điều 211, BLDS Cộng hòa Hồi giáo Iran quy định các bên nhất thiết phải ở một độ tuổi nhất định, đã trưởng thành và có nhận thức thích hợp. Neu chù thề tham gia thống nhất ý chí giao kết hợp đồng là pháp nhân hoặc các chủ thể đặc biệt khác thì phải có đủ năng lực để tham gia thống nhất ý chí giao kết hợp đồng do pháp luật qui định. Lấy ví dụ: Theo Điều 101, BLDS năm 2015, “Trường họp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Khi có sự thay đổi người đại diện thì phải thông báo cho bên tham gia quan hệ dân sự biết. Trường hợp thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự không được các thành viên khác ủy quyền làm người đại diện thì thành viên đó là chủ thế của quan hệ dân sự do mình xác lập, thực hiện”.