Chương 1. CƠ SƠ LÝ LUẬN VỀ THÔNG ĐIỆP TRONG XÂY DỰNG HÌNH ẢNH CỦA ĐỊA PHƯƠNG TRÊN BÁO CHÍ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN 1. Các khái niệm, thuật ngữ 1. Khái niệm truyền thông Trong một xã hội không ngừng phát triển, truyền thông trở thành một khái niệm được nhiều người biết tới.
Truyền thông đã thành lĩnh vực có vai trò to lớn trong xã hội, ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống con người. Truyền thông là hoạt động truyền đạt thông tin giữa hai hoặc nhiều thành viên. Nó thông qua trao đổi ý tưởng, cảm xúc, ý định, thái độ, mong đợi, nhận thức hoặc các lệnh như: ngôn ngữ, cử chỉ phi ngôn ngữ, chữ viết, hành vi và có thể bằng các phương tiện khác như thông qua điện tử, hóa chất, hiện tượng vật lý và mùi vị. Truyền thông đòi hỏi phải có người gửi, một tin nhắn, một phương tiện truyền tải và người nhận hiểu thông điệp của người gửi.
Quá trình truyền thông có thể chia thành các yếu tố cơ bản như sau: Nguồn Thông điệp Kênh Người phát nhận Trong đó: Nguồn: là yếu tố mang thông tin tiềm năng và khởi xướng quá trình truyền thông. Thông điệp: là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận thông tin. Ba thành tố chính của thông điệp là: ai, làm gì, để đạt được điều gì. Thông điệp cần có tác động tới thái độ, hành vi của người đón nhận thông điệp.
Kênh truyền thông: là các phương tiện, con đường, cách thức truyền tải thông điệp từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận. Người nhận: là các cá nhân hay nhóm người tiếp nhận thông điệp trong quá trình truyền thông. Phản hồi: là thông tin ngược, là dòng chảy của thông điệp từ người nhận trở về nguồn phát. Nhiễu: là yếu tố gây ra sự sai lệch thông tin trong quá trình truyền thông.
Có nhiều cách chia các loại truyền thông. Trong 13 cuốn Báo chí truyền thông hiện đại do Nguyễn Văn Dững chủ biên, ông đã dựa theo kênh truyền tải thông điệp, đã chia truyền thông thành hai loại: truyền thông trực tiếp và truyền thông gián tiếp. Truyền thông trực tiếp có tác động tới từng cá nhân hoặc nhóm qua việc tiếp xúc trực tiếp tại nhà, cơ quan, hội nghị. Trong đó, truyền thông tới từng cá nhân có thể tiến hành qua việc tiếp xúc tại nhà, tại cơ qua, gọi điện thoại, gửi thư.
Truyền thông tới từng nhóm có thể qua hội thảo, tập huấn, huấn luyện, họp nhóm, tham quan, khảo sát. Từ điển tiếng Việt cũng nêu rõ, “truyền thông” với nghĩa động từ có nghĩa là truyền dữ liệu theo những quy tắc và cách thức nhất định. Nó cũng có thể hiểu là thông tin và tuyên truyền, là phương tiện truyền thông. Các phương tiện hiện đại này trở thành một phần không thể thiếu để đảm bảo cho xã hội phát triển và ổn định.
Trong cuộc sống truyền thông - giao tiếp trong xã hội loài người, khi truyền thông gắn liền với các phương tiện truyền thông đại chúng thì tính mục đích được thể hiện và lên kế hoạch rõ ràng, khi chúng ta trò chuyện, trao đổi, điều đó có nghĩa quá trình truyền thông đã được thực hiện. Nó đến một cách tự nhiên vì những mục đích chung, nhu cầu chung. Trong truyền thông, người ta phân chia ra các dạng thức, loại hình khác nhau nhằm khu biệt các mô hình, mô thức, cách thức tổ chức liên kết các yếu tố hoạt động truyền thông. Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau sẽ có các cách phân loại khác nhau như truyền thông nội cá nhân, truyền thông liên cá nhân, truyền thông nhóm, truyền thông đại chúng.
Theo tác giả Nguyễn Văn Dững: Truyền thông là khái niệm có thể được tiếp cận dưới hai cấp độ. Thứ nhất, truyền thông là hiện tượng xã hội, được nhìn nhận như một quá trình liên tục thông tin, kiến thức, tư tưởng, tình cảm, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm gia tăng sự 14 hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh thái độ và hành vi xã hội. Thứ hai, tiếp cận ở bình diện quan điểm cấu trúc chức năng- bản chất xã hội, truyền thông được nhìn nhận như một thiết chế kiến tạo xã hội, là phương tiện và phương thức thông tin giao tiếp xã hội; là phương tiện và phương thức kết nối xã hội; là phương tiện và phương thức can thiệp xã hội, là phương tiện và phương thức phục vụ quyền lực chính trị. Thông điệp và thông tin 1.
Thông điệp Thông điệp xét về mặt danh từ là công văn ngoại giao quan trọng do một nước hay một tổ chức quốc tế lớn gửi cho một hay nhiều nước khác; báo cáo do tổng thống gửi cho quốc hội để trình bày tình hình và chính sách; điều quan trọng muốn gửi gắm thông qua một hình thức hoạt động, một việc làm mang tính biểu trưng nào đó. Thông điệp là sự phối hợp và tổng hợp các yếu tố như ngôn ngữ, hình ảnh, màu sắc, âm thanh nhằm truyền đạt ý đồ của chủ thể đến công chúng nhận tin. Thông điệp là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận… Thông điệp của báo chí được thể hiện ở cấp độ khác nhau: Thông điệp số báo, chương trình phát thanh, chương trình truyền hình; thông điệp của tác phẩm báo chí. Tính chất đặc thù của thông điệp báo chí là nó được cấu thành từ các sự kiện và vấn đề thời sự đã và đang diễn ra.
Thông điệp báo chí lại gắn liền với đặc điểm và yêu cầu của kênh chuyển tải – báo in, phát thanh, truyền hình hay báo điện tử”. Thông điệp chính là nội dung thông tin mà những người thực hiện chiến dịch truyền thông muốn đạt tới công chúng. Thông điệp phải rõ ràng, một nghĩa, phải quan tâm tới việc kích thích lợi ích. 15 Trong báo chí, “thông điệp” mang ý nghĩa rộng lớn, có thể bằng chữ viết, hình ảnh, lời nói, kí tự.
Nhưng điều quan trọng là tùy đối tượng hướng tới, “thông điệp” phải được diễn tả bằng thứ ngôn ngữ dễ hiểu, dễ nhớ và dễ làm theo. Các thông điệp của truyền thông đại chúng mang tính chất công cộng, nghĩa là bất kì ai được tiếp cận thì sẽ biết đến thông điệp đó. Có thể hiểu là hình thức và phương thức truyền tải thông điệp. Ở hình thức thể hiện, “thông điệp” bao gồm lời nói, hình ảnh, cỡ chữ, kí tự.
tức là những tín hiệu học mà chúng ta nhìn thấy được bằng mắt, nghe thấy được bằng tai. Còn phương thức truyền tải chính là các phương tiện như báo in, báo điện tử, phát thanh, truyền hình. Giáo sư Herbert Marshall McLuhan, Canada nổi tiếng về lý thuyết truyền thông, đã đưa ra biểu thức: Môi trường là thông điệp. Thử thách định nghĩa rằng phương tiện truyền thông là thông điệp.
Với tuyên bố này, ông nhấn mạnh, các kênh khác nhau, không chỉ về mặt nội dung, mà còn liên quan đến cách truyền tải, đánh thức và làm thay đổi suy nghĩ và giác quan của công chúng. Hình thức thông điệp bên trong mà đối tượng tiếp nhận có thể đọc hiểu và thay đổi trong ý thức, hành vi. Bản chất nội dung luôn bị chi phối bởi tính mục đích của chủ thể sáng tạo ra tức là sẽ có động cơ hoặc ý định sâu xa của tác giả. Thông điệp là những thông tin thực sự được chuyển theo một mạch truyền này hay kênh khác đến đối tượng.
Bản thân thông điệp mang trong mình những thông tin mã hóa (encode) - tức là tìm tới một hệ thống tín hiệu ngôn ngữ học nào đó để diễn đạt nội dung thông điệp. Quá trình mã hóa này gồm nhiều công đoạn kế tiếp nhau và liên quan rất nhiều đến khía cạnh kĩ thuật và công nghệ.Vì những thông điệp đó được “mã hóa” nên muốn hiểu chúng, về cơ bản phải “giải mã” nó. Hiểu một cách đơn giản kĩ thuật để hỗ trợ 16 quá trình “giải mã” là ti vi, radio. và bất cứ công cụ nào phát ra thông điệp đó và làm bạn biết đến.
Chính vì vậy mặc dù “thông điệp” là một nhưng cách tiếp nhận và hiểu biết nó lại phụ thuộc vào từng cá nhân “giải mã”. Mỗi cá nhân do trình độ, sở thích, mục đích. khác nhau nên thông điệp đó cũng có cách tiếp cận và hiểu biết khác nhau. Ngoài ra sự khác nhau này còn tùy thuộc vào người cung cấp và nội dung thông điệp.
Tác giả Nguyễn Văn Dững và Đỗ Thị Thu Hằng định nghĩa: “Thông điệp là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận. Thông điệp chính là những tâm tư, tình cảm, mong muốn, đòi hỏi, ý kiến, hiểu biết, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học - kỹ thuật… được mã hóa theo một hệ thống ký hiệu nào đó. Hệ thống này phải được cả bên phát và bên nhận cùng chấp nhận và có chung cách hiểu - tức là có khả năng giải mã. Tiếng nói, chữ viết, hệ thống biển báo, hình ảnh, cử chỉ biểu đạt của con người được sử dụng để chuyển tải thông điệp”.
Như vậy, thông điệp là một hệ thống ký hiệu hàm chứa nội dung thông tin cụ thể. Hệ thống ký hiệu này là quy ước giữa đầu phát và đầu nhận, nói cách khác, hệ thống ký hiệu ấy phải được giải mã bởi đầu nhận. Trong truyền thông, thông điệp được hiểu là một phát ngôn hoàn chỉnh cả về nội dung và hình thức dành cho một nhóm đối tượng trong hoàn cảnh cụ thể nhằm hướng tới mục tiêu của chiến dịch truyền thông. Theo tác giả Đỗ Thị Thu Hằng, Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản (2012), có nhiều loại thông điệp truyền thông nhưng tựu chung có 4 loại cơ bản như sau: - Thông điệp đích là thông điệp của cả chiến dịch truyền thông hướng tới.
- Thông điệp cụ thể (có thể gọi là thông điệp bộ phận) là thông điệp cấu thành thông điệp đích của chiến dịch truyền thông. 17 - Thông điệp tài liệu là loại thông điệp ẩn chứa trong các tài liệu, dữ liệu… loại thông điệp này dễ nhận biết vì nó biểu hiện cụ thể, có thể nhìn thấy bằng trực quan. - Thông điệp ẩn là loại thông điệp mà nhận biết nó cần phải tư duy tích cực, năng lực trừu tượng hóa, cảm nhận tinh tế và thậm chí sự liên tưởng với những vấn đề kinh tế, văn hóa- xã hội đã và đang đặt ra. Các yếu tố tạo nên thông điệp truyền thông hiệu quả Trong thực tế, tùy theo điều kiện hình thành và phát triển lịch sử - văn hóa của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng hay nhóm công chúng - nhóm đối tượng, có sắc thái nhận thức khác nhau về lý trí và tình cảm khác.