Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỜI HẠN TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA THỜI HẠN TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. Khái niệm thời hạn tố tụng dân sự Pháp luật là một hệ thống các quan hệ đa dạng và phức tạp, khi tham gia vào các quan hệ xã hội đó, các chủ thể phải thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Việc một chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quyền và nghĩa vụ của mình mà luật đã định có thể sẽ xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác và điều này sẽ dẫn đến tranh chấp quyền và lợi ích giữa các chủ thể trong một hoặc nhiều quan hệ pháp luật dân sự.
Để duy trì, bảo đảm trật tự pháp luật, Nhà nước thiết lập một cơ chế bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong trường hợp quyền của họ bị các chủ thể pháp luật dân sự khác xâm phạm. Theo đó, cá nhân, cơ quan, tổ chức hay các chủ thể khác của pháp luật có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm thì có quyền sử dụng các biện pháp luật định để bảo vệ quyền, lợi ích dân sự của mình. Do vậy, khi chủ thể yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích dân sự hợp pháp của mình thì Tòa án phải xem xét thụ lý giải quyết để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người yêu cầu. Tuy nhiên, việc giải quyết các vụ việc dân sự này phải tuân theo trình tự, thủ tục pháp luật nhất định.
Trong khoa học pháp lý chúng ta gọi trình tự, thủ tục luật định đó là tố tụng dân sự và những hoạt động của các chủ thể nêu trên trong quá trình tiến hành giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của pháp luật được gọi là hoạt động tố tụng dân sự. Theo quy định tại Điều 1 BLTTDS thì tố tụng dân sự bao gồm việc khởi kiện, thụ lý, hòa giải, chuẩn bị xét xử, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm và thi hành bản án, quyết định của Tòa án. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trước đây, khi BLTTDS chưa được ban hành, trong tất cả các văn bản pháp luật về tố tụng dân sự hầu như chưa có khái niệm về vụ việc dân sự mà chỉ có khái niệm về vụ án dân sự. Khái niệm vụ án dân sự được hiểu là tất cả những loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, không phân biệt đó là vụ án thuộc loại gì và thuộc đối tượng điều chỉnh của ngành luật nội dung nào.
Điều này được thể hiện ngay tại Điều 1 Luật Tổ chức TAND năm 2002, theo đó: "Tòa án xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật". Ngay Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 cũng đều xác định gọi tên chung của những loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là các vụ án, không có sự phân biệt vụ việc có tranh chấp hay không có tranh chấp. Khi BLTTDS được ban hành, tại Điều 1 Bộ luật này đã có sự phân biệt giữa các vụ việc có tranh chấp và vụ việc không có tranh chấp. Theo đó, vụ việc dân sự bao gồm vụ án dân sự và việc dân sự.
Vụ án dân sự là việc có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại hoặc lao động giữa các bên. Việc dân sự là việc không có tranh chấp giữa các bên nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ để làm phát sinh hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự hoặc yêu cầu Tòa án công nhận cho mình một quyền dân sự. Việc giải quyết các vụ việc dân sự tiến hành nhanh chóng sẽ giải quyết được tranh chấp, bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể. Để thực hiện được điều này thì mỗi hành vi của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan đều phải tiến hành trong một khoảng thời gian nhất định.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý thì: "Thời hạn là khoảng thời gian quy định để làm xong hoặc chấm dứt việc nào đó" [33, tr. 1530]; theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ, Viện Khoa học - Xã hội - Nhân 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com văn thì: "Thời hạn là khoảng ngày giờ có giới hạn, có định trước, không được quá" [32, tr. 962]; trong khi đó cuốn Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam của GS. Nguyễn Lân lại giải thích thời hạn là "khoảng thời gian có giới hạn nhất định để làm việc gì" [10, tr.
Như vậy có thể thấy về mặt nội hàm thì các từ điển đều giải thích thời hạn là một khoảng thời gian để làm hoặc chấm dứt một công việc nhất định. Dưới góc độ pháp lý, Điều 149 Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2005 quy định, thời hạn là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác. Thời hạn có thể được xác định bằng phút, giờ, tuần, ngày, tháng, năm hoặc bằng một sự kiện có thể xảy ra. Xác định thời hạn nhằm mục đích xác định một công việc, một hành vi nhất định được thực hiện như thế nào về mặt thời gian.
Là một loại thời hạn, trước hết thời hạn tố tụng dân sự cũng có những nội dung của thời hạn nói chung [8, tr. Khoản 1 Điều 157 BLTTDS quy định thời hạn tố tụng là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác để người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan thực hiện hành vi tố tụng do BLTTDS quy định. Trong tố tụng dân sự, thời hạn tố tụng là khoảng thời gian được xác định gắn liền với toàn bộ trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự, bắt đầu từ khi Tòa án nhận đơn khởi kiện hoặc đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và kết thúc khi vụ việc được giải quyết xong. Toàn bộ trình tự giải quyết vụ việc dân sự lại bao gồm nhiều thủ tục tố tụng, nhiều giai đoạn tố tụng khác nhau.
Mỗi thủ tục, mỗi giai đoạn tố tụng lại có quy định thời hạn tố tụng cụ thể (ví dụ giai đoạn khởi kiện và thụ lý vụ án có quy định riêng về thời hạn thực hiện. Trong giai đoạn khởi kiện và thụ lý lại quy định thời hạn để thực hiện từng thủ tục, như từ lúc nhận đơn đến khi thông báo cho đương sự bổ sung các chứng cứ, tài liệu theo quy định của pháp luật tố tụng phải thực hiện trong bao 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Hoặc từ khi đương sự hoàn tất thủ tục khởi kiện đến khi Tòa án thụ lý vụ việc thì thời gian được quy định như thế nào). Thời hạn trong tố tụng dân sự có điểm khác biệt với thời hạn trong luật dân sự [27, tr.
Thời hạn dân sự có thể do pháp luật quy định hoặc được xác lập trên cơ sở sự thỏa thuận của các đương sự trong khi đó thời hạn tố tụng dân sự chỉ do pháp luật quy định hoặc do người có thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng ấn định theo quy định của pháp luật, các đương sự và những người khác nói chung không có quyền thỏa thuận xác lập thời hạn tố tụng. Điểm khác biệt nữa là nếu thời hạn dân sự theo thời gian liên tục thì thời hạn tố tụng dân sự có thể bị gián đoạn bởi các ngày nghỉ của các cán bộ, công chức viên chức như ngày thứ bảy, chủ nhật hoặc các ngày lễ, tết. Lý do là bởi các hoạt động tố tụng được thực hiện phải thông qua các cơ quan tiến hành tố tụng. Hơn nữa hoạt động tố tụng dân sự thường diễn ra ban ngày để đảm bảo tính công khai, minh bạch của việc giải quyết vụ việc dân sự nên thời hạn tố tụng được tính bằng ngày, tháng, năm là chủ yếu, ít khi thời hạn tố tụng được tính bằng giờ như thời hạn dân sự.
Từ những vấn đề nêu trên, có thể kết luận: Thời hạn tố tụng dân sự là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác để người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan thực hiện hành vi theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Ý nghĩa của thời hạn tố tụng dân sự Pháp luật quy định thời hạn tố tụng dân sự không chỉ xác định thời gian giải quyết xong một vụ việc dân sự mà còn xác định từng công việc phải làm trong từng khoảng thời gian nhất định. Bởi thế thời hạn tố tụng dân sự không chỉ có ý nghĩa đơn thuần về mặt thời gian mà còn là những mốc để người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đến quá trình tố tụng xác định những công việc mà các chủ thể này phải làm đã được thực hiện và thực hiện xong hay chưa. Thời hạn tố 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tụng dân sự được xác định bằng giờ, ngày, tuần, tháng, năm hoặc bằng một sự kiện có thể xảy ra.
Ví dụ 1: Khoản 1 Điều 172 BLTTDS quy định trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán giải quyết vụ án [18]. Ví dụ 2: Khoản 1 Điều 208 BLTTDS quy định thời hạn hoãn phiên tòa dân sự sơ thẩm không quá ba mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa [18]. Từ đó cho thấy thời hạn tố tụng dân sự có những ý nghĩa cơ bản sau: Thứ nhất, xác định từng công việc phải làm trong từng khoảng thời gian nhất định.