Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỎA THUẬN PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế có phải là một hợp đồng dân sự? Để xác định thỏa thuận phân chia di sản có phải là một hợp đồng dân sự hay không cần xác định xem thỏa thuận phân chia di sản có những đặc điểm cơ bản của một hợp đồng dân sự hay không xét từ khái niệm, nguyên tắc giao kết, chủ thể, đối tượng của thỏa thuận, hình thức, nội dung của thỏa thuận, địa điểm, thời điểm giao kết, hiệu lực của thỏa thuận. KHÁI NIỆM THỎA THUẬN PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ Phân chia theo nghĩa kỹ thuật của từ ngữ là một tập hợp các hoạt động nhằm chấm dứt tình trạng có quyền chung của nhiều người trên một hoặc nhiều tài sản. Phân chia di sản, trong quan niệm của luật học phương Tây, giả định có ít nhất hai người có quyền hưởng di sản và có những quyền lợi cùng tính chất trên một hoặc nhiều tài sản thuộc di sản. Nói cách khác, chỉ có phân chia nếu trước đó tồn tại giữa những người có liên quan một tình trạng có quyền chung - có thể là sở hữu chung, hưởng hoa lợi chung,…; và việc phân chia có tác dụng chấm dứt tình trạng đó.
Di sản thừa kế là phần di sản còn lại sau khi đã thanh toán nghĩa vụ của người chết để lại và các chi phí liên quan đến di sản. Việc phân chia di sản liên quan đến một số người. Nó không hẳn có thể được thực hiện bất kỳ lúc nào; và khi được thực hiện, thì nó chịu sự chi phối của một loạt các quy tắc liên quan đến cả hình thức và nội dung. Việc phân chia di sản thừa kế có thể được thực hiện tại tòa án hoặc do những người thừa kế thỏa thuận.
Thông thường các tranh chấp về thanh toán 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và phân chia di sản không đưa ra Tòa án nhân dân mà các bên tranh chấp tự giải quyết bằng nhiều con đường hòa giải khác nhau: anh chị em thuyết phục nhau rồi thỏa thuận hoặc nhờ trưởng họ, hội đồng gia tộc hoặc nhờ người có uy tín hiểu biết về pháp luật… giúp đỡ viết biên bản cùng ký tên. Bất đắc dĩ những người thừa kế mới đưa đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân và đó thường là những tranh chấp phức tạp, thời điểm mở thừa kế đã quá lâu, người thừa kế thuộc hàng thứ nhất có người đã chết… Tuy nhiên, theo quan điểm của tôi, khi trình độ dân trí ngày một tăng lên cùng với sự tư vấn của các luật sư, thì những người thừa kế sẽ ngày càng nhận ra những ưu điểm của việc thỏa thuận phân chia di sản thừa kế và thỏa thuận phân chia di sản sẽ ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn trong tương lai. Sau đây là một số lý do: Việc phân chia tại tòa có những nhược điểm sau: - Tâm lý: Vô phúc đáo tụng đình. Gia đình có bố hoặc mẹ mới chết mà các con đã kiện nhau ra tòa để chia di sản là gia đình vô phúc.
- Mất đoàn kết trong gia đình: Sau khi anh chị em kiện ra Tòa để phân chia di sản thì sau đó dù ai thắng ai thua, quan hệ giữa anh chị em sẽ ít nhiều bị sứt mẻ, thậm chí nhiều trường hợp không muốn nhìn mặt nhau. Di sản thừa kế nếu là mảnh đất hoặc căn nhà thì khi phân chia anh chị em vẫn sống gần nhau, nếu không giải quyết tốt tranh chấp thì rất có thể sẽ phát sinh mâu thuẫn mới từ những vấn đề rất nhỏ như: hàng rào, mái ranh, ô văng… Mất đoàn kết trong gia đình gây mất trật tự công cộng, thậm chí có nhiều trường hợp phải xử lý hình sự. - Chi phí: Bao gồm: Án phí: tính theo % giá trị tài sản và tài sản càng lớn thì án phí càng lớn, chưa kể các chi phí khác như chi phí thuê luật sự, chi phí đi lại, chi phí để thu thập đủ các giấy tờ chứng minh. - Thời gian: một vụ kiện về thừa kế thường kéo dài nhiều tháng, thậm chí nhiều năm, đặc biệt là những vụ phức tạp cần nhiều giấy tờ và xác minh 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhiều tình tiết liên quan.
Những vụ kiện thừa kế đi qua các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm thậm chí giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. - Thủ tục thi hành án kéo dài và phức tạp vì trong nhiều trường hợp trước khi di sản được phân chia những người thừa kế đã sống trong ngôi nhà là di sản thừa kế nhiều năm và ít nhiều cũng có đóng góp vào việc sửa chữa ngôi nhà. Trong khi đó thỏa thuận phân chia có nhiều ưu điểm hơn: - Giữ được đoàn kết trong gia đình - Phân chia trên cơ sở tương thân tương trợ. Nếu như một trong các người thừa kế có hoàn cảnh kinh tế khá hơn có thể nhường một phần hoặc nhường toàn bộ phần thừa kế của mình cho người thừa kế khác khó khăn hơn hoặc có nhiều trường hợp người có điều kiện kinh tế khá hơn xin hưởng toàn bộ thừa kế và hỗ trợ các đồng thừa kế khác một số tiền thỏa đáng.
- Đối với các tài sản không thể phân chia hoặc việc phân chia sẽ làm mất giá trị của tài sản như đồ cổ thì việc thỏa thuận để một người hưởng vật này và người khác hưởng vật khác hoặc một số tiền là hợp lý nhất. - Đối với diện tích nhà đất quá nhỏ thì việc chia đều mảnh đất cho tất cả các thừa kế là không hiệu quả. Ví dụ: Thửa đất 20m2 nếu chia đều cho 4 người con thì mỗi người chỉ được 5m2 quá nhỏ để làm nhà, chi bằng 3 người nhường cho người còn lại và người còn lại đó có thể trả tiền hoặc nhường một phần quyền thừa kế đối với di sản khác cho những người thừa kế kia. - Liên quan đến các thủ tục hành chính như: + Vấn đề người Việt Nam định cư ở nước ngoài có được quyền sở hữu nhà tại Việt Nam các qui định của Luật Đất đai, Luật Nhà ở còn chưa cụ thể, nên việc áp dụng tại một số địa phương như Hà Nội còn gặp khó khăn cho nên trong trường hợp có người thừa kế đang định cư ở nước ngoài để đơn 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giản về thủ tục người thừa kế định cư ở nước ngoài thường nhường phần thừa kế của mình cho những người thừa kế khác đang ở trong nước.
+ Liên quan đến hạn mức đất được phép tách thửa. Theo Quyết định 26/2008/QĐ-UBND ngày 28/5/2008 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Khoản 1 Điều 3: Thì diện tích đất được phép tách thửa không nhỏ hơn 30m2/thửa. Vì vậy trong trường hợp diện tích đất nhỏ hơn 30m2 thì các đồng thừa kế khi làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế phải đứng tên đồng sở hữu nhà, sử dụng đất hoặc phải nhường cho một trong các người thừa kế đứng tên sở hữu. - Chi phí ít hơn: Lệ phí công chứng Văn bản thỏa thuận phân chia tại thời điểm hiện nay cũng tính theo giá trị tài sản nhưng ít hơn rất nhiều án phí tại Tòa án.
- Qui định của pháp luật dân sự về những người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc. Quyền định đoạt của người lập di chúc sẽ bị hạn chế trong trường hợp có người thừa kế không phụ thuộc nội dung của di chúc theo Điều 669 Bộ luật Dân sự năm 2005. Hơn nữa việc xác định thế nào là hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật không phải lúc nào cũng là một việc rễ ràng. Vì vậy, theo tôi, thỏa thuận phân chia di sản là cách giải quyết hợp lý, hợp tình và hiệu quả nhất trong trường hợp này.
Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế được qui định tại Phần thừa kế trong Bộ luật Dân sự và tại Luật Công chứng năm 2007, Điều 49: Công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản: 1. Những người thừa kế theo luật hoặc theo di chúc mà trong di chúc không xác định rõ phần di sản được hưởng của từng người thì họ có quyền yêu cầu công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong văn bản thỏa thuận phân chia di sản, người được hưởng di sản có thể tặng cho toàn bộ hoặc một phần quyền hưởng di sản của mình cho người thừa kế khác. Văn bản thỏa thuận phân chia di sản đã được công chứng là một căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký việc chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản cho người được hưởng di sản [6].
Từ những lập luận trên, đối chiếu với khái niệm hợp đồng dân sự tại Điều 388 Bộ luật Dân sự 2005, theo tôi: Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế thỏa mãn yêu cầu về khái niệm của một hợp đồng dân sự bởi thỏa thuận phân chia di sản thừa kế là sự thỏa thuận giữa những người thừa kế về việc chấm dứt tình trạng sở hữu chung đối với di sản thừa kế. NGUYÊN TẮC GIAO KẾT Quyền thừa kế là một chế định của Bộ luật Dân sự nên việc thừa kế phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản mà bộ luật đã qui định. Bên cạnh đó, với tư cách là một chế định riêng nên quyền thừa kế cũng có những nguyên tắc riêng của mình. Tuy nhiên, các nguyên tắc này không được trái với nguyên tắc chung của Bộ luật Dân sự.
Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế vừa phải tuân theo những nguyên tắc chung của Bộ luật Dân sự về thỏa thuận vừa phải tuân theo các nguyên tắc riêng của thừa kế, bao gồm các nguyên tắc chính sau: 1. Nguyên tắc bình đẳng Nguyên tắc bình đẳng được quy định cụ thể tại Điều 632 Bộ luật Dân sự năm 2005. Đây là sự cụ thể hóa nguyên tắc bình đẳng đã được quy định trong Điều 8 của Bộ luật Dân sự, đồng thời cũng là sự cụ thể hóa nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của công dân đã được Hiến pháp qui định. Nội 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dung của nguyên tắc bình đẳng về quyền thừa kế của cá nhân đã được qui định trong Bộ luật Dân sự bao gồm: - Cha, mẹ có quyền ngang nhau trong việc hưởng di sản của con Điều 676 Bộ luật Dân sự đã xếp cha, mẹ cùng đứng hàng thứ nhất để hưởng di sản của con khi con chết trước cha, mẹ.
Cũng trong điều luật này, tại Khoản 2 đã qui định những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản ngang nhau.