Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THỎA THUẬN LỰA CHỌN TÒA ÁN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ 1. Khái niệm giải quyết tranh chấp thƣơng mại quốc tế bằng tòa án 1. Tranh chấp thương mại quốc tế Có thể hiểu một cách khái quát, tranh chấp trong hoạt động thương mại là những mâu thuẫn, bất đồng giữa các bên tham gia quan hệ thương mại mà chủ yếu liên quan đến việc thực hiện hoặc không thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng. Tranh chấp thương mại thường có các yếu tố sau: Có quan hệ thương mại tồn tại giữa các bên tranh chấp; Có sự vi phạm (hoặc giả thiết vi phạm) nghĩa vụ của một bên làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của bên kia; Có sự bất đồng quan điểm giữa các bên về sự vi phạm hoặc việc xử lý hậu quả phát sinh từ sự vi phạm.
Tranh chấp thương mại thường có yếu tố tài sản, gắn liền với lợi ích của các bên tranh chấp và phát sinh trực tiếp từ quan hệ hợp đồng. Do đó, các bên luôn có quyền định đoạt và giải quyết theo nguyên tắc bình đẳng, thỏa thuận [7]. Hoạt động thương mại, theo khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại Việt Nam 2005, là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Hiểu theo nghĩa rộng như Luật mẫu UNCITRAL thì hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, phân phối, đại diện, đại lý thương mại, ký gửi, thuê, cho thuê, thuê mua, 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xây dựng, tư vấn, kỹ thuật, li xăng, đầu tư, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thăm dò, khai thác, liên doanh và các hình thức khác của hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh, vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và cá hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật [7].
Khoản 4 Điều 9 Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ quy định: “Tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh giữa các bên trong một giao dịch thương mại”. Xuất phát từ tính chất của quan hệ thương mại quốc tế là có liên quan tới nhiều quốc gia. Giữa các bên tham gia hợp đồng thường có khoảng cách về địa lý, truyền thống pháp lý và tập quán thương mại thường không giống nhau. Điều kiện ngoại cảnh ở mỗi nước đều có thể gây ra cho mỗi bên những khó khăn không lường trước được khi tham gia các quan hệ thương mại có yếu tố nước ngoài.
Do đó, các giao dịch thương mại quốc tế khó tránh khỏi phát sinh các tranh chấp. Đối với tranh chấp thương mại quốc tế, đặc điểm cho phép phân biệt với tranh chấp thương mại trong nước là ở yếu tố “quốc tế”. Yếu tố “quốc tế” trong quan hệ thương mại ở đây có thể hiểu là “yếu tố nước ngoài” (YTNN), là một phần trong các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Các nước trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm “yếu tố nước ngoài” trong quan hệ dân sự nói chung và thương mại nói riêng, nhưng nhìn chung, để xác định YTNN trong một quan hệ thương mại cụ thể thường dựa vào một trong ba dấu hiệu.
Thứ nhất, khi quan hệ có ít nhất một bên là chủ thể nước ngoài (dấu hiệu chủ thể). Thứ hai, khách thể của quan hệ đó là tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài. Thứ ba, sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở nước ngoài hoặc theo pháp luật nước ngoài. Việc nhận diện YTNN trong quan hệ thương mại 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com là hết sức cần thiết.
Xác định YTNN không đúng sẽ dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn. Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế coi yếu tố “quốc tế” là trụ sở thương mại ở các nước khác nhau. Công ước Lahay 1964 về mua bán quốc tế động sản hữu hình, yếu tố “quốc tế” là chủ thể có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau và đối tượng là hàng hóa được chuyển qua biên giới hoặc việc trao đổi ý chí ký kết hợp đồng giữa các bên được lập ở những nước khác nhau. Luật thương mại Việt Nam 2005 không định nghĩa thế nào là một quan hệ thương mại có YTNN, tuy nhiên, có liệt kê các hình thức của việc mua bán hàng hóa quốc tế.
Theo đó, mua bán hàng hóa quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu. Theo Luật trọng tài thương mại 2010 “tranh chấp có yếu tố nước ngoài là tranh chấp phát sinh trong quan hệ thương mại, quan hệ pháp luật khác có yếu tố nước ngoài được quy định tại Bộ luật dân sự” [20, Điều 3, Khoản 4]. Dẫn chiếu tới Bộ luật dân sự Việt Nam 2005 cũng có quy định về yếu tố nước ngoài theo ba dấu hiệu chủ thể, khách thể và sự kiện pháp lý như trên. Bên cạnh đó, Bộ Luật tố tụng dân sự Việt Nam (BLTTDS) 2004 cũng có quy định: Vụ việc dân sự có YTNN là vụ việc dân sự có ít nhất một trong các bên là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc các quan hệ dân sự giữa các đương sự là công dân, cơ quan tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài [15].
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đây là điều khá đặc biệt so với Tư pháp quốc tế của một số nước. Cộng hòa Pháp có hệ thống Tư pháp quốc tế khá phát triển nhưng không có văn bản nào định nghĩa về khái niệm “yếu tố nước ngoài”. Ba nước có Luật tư pháp quốc tế ở Châu Âu là Thụy Sỹ, Bỉ, Ý nhưng cả ba bộ luật đều không có khái niệm này. Riêng Nga là có định nghĩa này trong BLDS như ở Việt Nam.
Pháp luật Việt nam cũng như nhiều nước trên thế giới đều lấy dấu hiệu quốc tịch để xác định phạm vi các quan hệ thuộc phạm trù điều chỉnh của tư pháp quốc tế nước mình. Bên cạnh dấu hiệu chủ thể, để xác định một quan hệ có YTNN cũng cần xem xét đến dấu hiệu khách thể của quan hệ, cụ thể ở đây là tài sản. Khi nói đến tài sản liên quan đến quan hệ ở nước ngoài, thường chú ý đến quy chế pháp lý của tài sản, quyền của các bên đối với tài sản cụ thể đó. Điều này có nghĩa rằng pháp luật nước ngoài cũng có thể được áp dụng để điều chỉnh quan hệ liên quan đến tài sản.
Bên cạnh đó, sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ thương mại cũng là dấu hiệu nhận biết quan hệ thương mại có YTNN. Có thể hiểu một cách chung nhất, sự kiện pháp lý là những sự kiện thực tế mà sự xuất hiện thay đổi, hay mất đi của chúng được pháp luật gắn với việc hình thành thay đổi hay chấm dứt một quan hệ pháp luật. Sự kiện thực tế xuất hiện sự kiện pháp lý chỉ khi nào pháp luật xác định rõ điều đó. Đối với các sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ dân sự (trong đó có quan hệ thương mại) có YTNN được mỗi nước quy định khác nhau, việc thừa nhận hay không thừa nhận một sự kiện thực tế nào đó là sự kiện pháp lý đều xuất phát từ lợi ích của xã hội, của giai cấp cầm quyền nước đó.
Hành vi của các chủ thể tham gia quan hệ dân sự (bao gồm cả quan hệ 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thương mại) nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong quan hệ bao gồm cả các quyết định của cơ quan có thẩm quyền và hành vi cụ thể của các chủ thể tham gia quan hệ đó. Ngoài ba yếu tố trên, cư trú của các bên đương sự cũng là một dấu hiệu khá quan trọng để xác định quan hệ này. Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng tòa án Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng tòa án là một trong những phương thức giải quyết tranh chấp phổ biến và “thường được coi như là một giải pháp cuối cùng để giải quyết tranh chấp khi các phương thức thương lượng, hòa giải không có hiệu quả và các bên không muốn sử dụng phương thức trọng tài” [7]. Việc xác định thẩm quyền của tòa án để giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế là một phần trong tố tụng dân sự quốc tế.
Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng tòa án được hiểu là trình tự, thủ tục giải quyết một vụ án thương mại có yếu tố nước ngoài tại tòa án và việc đảm bảo thi hành các bản án, quyết định của tòa án về các tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài. Khi giải quyết tranh chấp thương mại có YTNN luôn làm nảy sinh vấn đề xung đột về thẩm quyền tòa án giữa các quốc gia. Quá trình giải quyết tranh chấp thương mại có YTNN chỉ cho phép tòa án áp dụng luật tố tụng của nước mình ngoại trừ có thỏa thuận khác giữa các quốc gia trong một giới hạn nhất định. Trong cơ chế giải quyết tranh chấp bằng tòa án, việc xác định thẩm quyền xét xử quốc tế của tòa án một quốc gia luôn luôn là vấn đề đầu tiên được đặt ra và có ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp.
Xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia và 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia, khi một tranh chấp có yếu tố nước ngoài phát sinh thì tòa án của hai hay nhiều nước khác nhau có liên quan đến tranh chấp đều có thể có thẩm quyền giải quyết. Do đó, trên thực tế có thể xảy ra tình trạng cùng một tranh chấp nhưng tòa án của nhiều nước khác nhau có liên quan cùng tuyên bố thẩm quyền giải quyết. Tuy nhiên, một vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài không thể được giải quyết bởi tòa án của nhiều quốc gia khác nhau. Vì vậy, khi một tranh chấp được đưa ra tòa án thì điều đầu tiên là tòa án phải xác định vụ việc có thuộc thẩm quyền của mình không.